Hải Long, Mặt Trận Miền Đông Phan Thiết
Những Ngày Cuối Tháng 4-1975

Tác gỉa: Mường Giang


Theo sử liệu, Chưởng Cơ Nguyễn Hửu Cảnh, một tướng lãnh tài danh của Đàng Trong, thời Chúa Nguyễn Phúc Chu, đã chỉ huy đạo quân Đại Việt đầu tiên, tiến vào miền Thủy Chân Lạp bằng đường bộ,sau khi Châu Panduranga cuối cùng của Vương quốc Chiêm Thành mất vào năm 1693. Đoàn quân khi qua sông Mai Nương, thuộc xứ Pan Rang, bắt đầu tiến dọc vào vùng gió cát ven biển lúc đó, hầu như không có bao nhiêu làng xóm, sự sống, mà chỉ có hàng hàng lớp lớp cát đụn, xương rồng mọc suốt bờ biển phía đông Bình Thuận , từ Cà Ná chạy vào tới Phù My, giáp ranh với Bà Rịa. Cuộc hành quân đường bộ dài trên 150km, đã góp phần tạo nên những thị trấn trù phú sau này như Long Vĩnh trong vịnh Ròn, Phan Rí ở cửa biển Paric, Phố Hải tại vịnh Ba Giai và Hamulithít (Phan Thiết).

Tóm lại từ thế kỷ thứ VIII sau TL, người Chàm trong vương triều Panduranga I, đã hoàn thành nhóm đền tháp Pôshanư, thờ cúng các vị thần thánh Ấn Độ giáo, trên đồi Bà Nài cách Phan Thiết về phía nam chừng 7 km. Từ thế kỷ XVII về sau, các thị trấn miền đông Bình Thuận , trong đó có Mũi Né và Phú Hài càng lúc càng trở nên trú phú và quan trọng, dù từ đầu thế kỷ XX, tỉnh lỵ dời từ Hòa Đa về Phan Thiết, nằm trên cửa sông Mường Man, chiếm lĩnh địa vị số 1 của Phố Hải suốt mấy thế kỷ qua.

Trước năm 1975, Mũi Né là thủ phủ của quận Hải Long, cửa ngõ để Hà Nội tiếp tế mọi thứ bằng đường biển cho bộ đội trú đóng trong mật khu Lê Hồng Phong, từ Hòn Hồng,Bãi Xếp, Ốc,Ghềnh, Dơi thuộc Bình Nhơn,Hòa Thắng đối diện với Hòn Nghệ ngoài biển, về hướng bắc Thạch Long, Khánh Thiện cũng như Vùng Rạng, Thiện Nghiệp. Những ngày cuối cùng cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai (1960-1975), theo các sử gia trong và ngoài nước cận đại, thì Bình Thuận là tỉnh duy nhất của miền Trung,từ lính cho tới công chức không bỏ chạy và họ đã chiến đấu với cộng sản Hà Nội tới ngày cuối cùng vào sáng 19-4-1975, cũng như đã thực hiện được các cuộc lui quân về Nam an toàn bằng đường bộ lẫn đường biển.

Riêng tại mặt trận miền đông Phan Thiết, trong vùng chiến thuật thuộc chi khu Hải Long, bao gồm quận lỵ Mũi Né, các phân chi khu Thiện Nghiệp, Thiện Khánh,An Hải,Phước Thiệu Xuân và Thanh Hải... theo lời các thẩm quyền lúc đó như Đại Tá Tỉnh Trưởng Ngô Tấn Nghĩa, Đốc sự Phó Tỉnh Phạm Ngọc Cửu, Trung tá quận trưởng Hàm Thuận Dụng văn Đối, cùng nhiều sĩ quan khác như Đại Úy Mai Xuân Cúc, Đại Úy Nguyễn Chánh Trúc, quận doàn trưởng XDNT Lê Ngọc Lan, Khai Trinh.. .kể lại, nhưng quan trọng hơn hết vẫn là lời của Trung Úy Lê Ngữ, Phân chi khu trưởng PCK Thiện Khánh, cấp chỉ huy trực tiếp nút chận chiến thuật trên mặt trận miền đông tại Thiện Khánh và cái loa của VC. Bình Thuận viết trong Phan Thiết 100 năm,vì tuyến Phan Rang bị vở ngày 16-4-1975, thì mãi tới 5 giờ sáng ngày 19-4-1975, khi QLVNCH được lệnh di tản chiến thuật khỏi tỉnh Bình Thuật, thì một đại đội thuộc C/482 VC, mới bon bon tới tiếp thu Hải Long đã bỏ ngỏ. Sau này nhân có một vài cấp sĩ quan tại Bình Thuận đã rời chức vụ trước khi giặc tới như Thiếu Tá Thông, quận trưởng Thiện Giáo, hay Trung Tá Đạm, CHT.QYV Đoàn Mạnh Hoạch bỏ chạy về Sài Gòn từ đầu tháng 4-1975, hoặc việc các Chi Khu Trường miền bắc Bình Thuận khi di tản đã bỏ quên một vài đơn vị ÐPQ-NQ trong khi còn đóng chốt dọc theo QL1 và trên hết là lỗi lầm của Đại Tá Nghĩa, không chịu phát lương tháng 3,4/1975 cho các cấp Quân Nhân,Công Chức... cuối cùng để cho cả tiền bạc tại Ty Ngân Khố, đựng trong các thùng đạn đại liên, chìm theo chiếc M113 tại biển Thương Chánh,tạo cớ cho một vài người chỉ trích về một trận đánh nào đó vào giờ thứ 25 của chiến cuộc, là không có đại bàng, lúc mà các trụ đèn vì không có chân và những tù nhân đang bi giam nên không thể chạy, còn hầu như mọi người kể cả một vài tướng lãnh, các sĩ quan cao cấp, công chức, cha thầy, đại trí thức, ca sĩ, đĩ điếm, thương gia cho tới hàng mệnh phụ, tiểu thư đã dám thí cái trinh tiết ngàn vàng cho cả lính Mỹ da đen, chỉ để xin một chổ ra khỏi nước, hầu giữ mạng trước biển giặc. Sự thật thì tới lúc đó, các đại bàng lớn nhỏ gần như đều có mặt. Nhưng thôi lích sử vẫn là lịch sử và nay thì hầu như những oan hồn tưởng đã chết trong địa ngục cộng sản, sau mười mấy năm tù như Phó Cửu, Quận Đối, Đại Uý Cúc, Trung úy Ngữ... được sống lại và tới định cư tại Hoa Kỳ. Chính họ mới là nhân chứng thật sự, có tư cách và thẩm quyền để xác nhận trước quân sử VNCH rằng cho tới trọn ngày 19-4-1975, các mặt trận tại Bình Thuận, gần như có đại bàng và binh sĩ các cấp tham dự, trong biển máu địa ngục, giữa tuyệt vọng vì phải đối mặt với hằng chục ngàn quân xâm lăng Bắc Việt , có đầy đủ tăng, pháo và sự tiếp tay của lũ ăn chén đá bát, cùng bọn nhân danh đủ thứ để có cớ đâm sau lưng người lính tận tuyệt, khiến cho miền nam VN phải mất, dân tộc VN bị nhuộm đỏ và đất nước mãi đắm chìm trong nhục nhã đói nghèo giữa thiên đàng xã nghĩa, được tạo bởi một phần công quả của một đám người được ưu tiên hậu hỹ suốt 20 năm tại VNCH...

1. TỔNG QUÁT VỀ TIỂU KHU BÌNH THUẬN TRƯỚC THÁNG 4-1975

Ngày 20-12-1960 theo tinh thần nghị quyết số 15 của trung ương đảng tại Hà Nội, cái mặt trận ma GPMN ra đời, mở màn cho cuộc xâm lăng của Bắc Việt. Tại Bình Thuận, bọn nằm vùng như Nguyễn quý Đôn, Nguyễn Như, Năm Trà, Song Mã,Hồ ngọc Lầu..vẫn bám trụ trong nội thành và không ngớt bày binh bố trận, từ khủng bố bằng quân sự cho tới việc xuí dục các học sinh trung học trong tỉnh , nhân danh tôn giáo , tuếp tay với chúng phá hoại đời sống an lành của người dân hiền hòa miền biển mặn. Sau ngày binh biến 1-11-1963, tình hình chiến sự tại miền nam VN trở nên tồi tệ vì ba năm xáo trộn chính trị do bọn kiêu tăng loạn tướng gây ra, tạo diều kiện cho VC hồi sinh và phá hoại dữ dội khắp nơi.

Bình Thuận cũng không tránh khỏi nạn kiếp trên, một mặt thì học sinh biểu tình, tuyệt thực, vạch ngực lấy máu... bắt chính quyền phải hoà hợp mời bắc bộ phủ về cầm quyền, mặc khác đêm 25-12-1964, C430VC tấn công dồn cảnh sát cổng chử Y, cùng lúc C480VC tấn công các ấp chiến lược ven biên thị xã Phan Thiết, mở màn cho những bửa tiệc máu người dân vô tội, cho tới khi Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa, nguyên Trưởng Phòng 2/QÐ2 về nhậm chức tỉnh trưởng vào mùa thu năm 1969, mới vãn hồi được an ninh khắp tỉnh và thị xã Phan Thiết, cho tới ngày tàn cuộc 19-4-1975.

Tại Tiểu khu Bình Thuận, năm 1966 tỉnh trưởng là Trung Tá Đinh Văn Đệ, về sau là dân biểu QHVNCH, giữ chức vụ chủ tịch uỷ ban QP Hạ viện vào năm 1969, nhưng lại là một điệp viên của Hà Nội, lộ mặt sau tháng 5-1975. Về tổ chức, thì thiếu tá Trần văn Chà làm tiểu khu phó kiêm Phó TT Nội An, về sau TT.Chà lên Trung Tá và làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 53/SD23BB. Đại Úy Lê Trung Hưng làm Tham Mưu Trưởng TK. Trung Úy Lữ Tây Tựu, người PT, một sĩ quan tài giỏi và can trường, từ SÐ23BB được biệt phái về giữ chức Trưởng phòng 2/TK, có phụ tá là Chuẩn Úy Mai Xuân Cúc, khóa 20 SQTB, người PT, tốt nghiệp khóa SQ Quân báo tại Mã Lai. Chính Cúc trong chức vụ trưởng ban ước tính tình hình tỉnh, thường phối họp với Phòng 3/TK bay L.19, quan sát khắp vùng từ cầu Đá Chẹt ở ranh giới Ninh Thuận-Bình Thuận về phía bắc, cho tới Vùng Núi Ông, Bình Thuận - Lâm Đồng và Núi Tà Cú, Binh Tuy-Bình Thuận. Do đó ông đã có một cái nhìn sắc bén và đứng đắn về phối trí quân số ÐPQ-NQ tại TK.BT. Cũng năm đó, trưởng phòng 3/TK là trung úy Nguyễn văn Trị. Riêng đại uý Lê văn Trạch là quận trưởng Hàm Thuận, đại uý Trọng QT.Thiện Giáo, đại uý Kiều văn Út QT Hải Long, thiếu tá Woàng sắn Cảnh, QT Hải Ninh, đại uý Lương Vặng,QT Phan Lý Chàm, đại uý Nguyễn quang Mẫn,QT Hòa Đa, Thiếu tá Bùi quang Huỳnh QT Tuy Phong. Về quân sự, thuở đó cấp đại đội ÐPQ là đơn vị cao nhất trong tỉnh. Về phía bắc có Trung tâm HL.ÐPQ-NQ Sông Mao do Trung Tá Thanh làm chỉ huy trưởng, còn Thiếu tá Woàng văn Thông thì làm CHT/BCH bắc BT bao gồm 4 quận HD,TP ,PLC và HN. Riêng CHT/ÐPQ-NQ tỉnh là thiếu tá Lê văn Thông, đóng chung với Quân vụ thi trấn và đồn quân cảnh trong TK cũ đối diện với vườn hoa và Ty ngân khố, cạnh trường nử TH. Về chủ lực quân biệt phái, chỉ có TD2/44/SD23 của Thiếu tá Xứng bao vùng khắp lãnh thổ. Cuối năm 1967, Trung Tá Nguyễn khắc Tuân thuộc tổng cục quân huấn/BTTM về làm tỉnh trưởng BT thay trung tá Đinh văn Đệ, Trung Tá Tuân ở lại VN đi tù và chết tại Bắc Việt, theo lời kể của dưỡng nử, hiện là chủ nhân nhà hàng Mỷ Cảnh tại Honolulu. Năm 1969, Đại Tá Đàng thiện Ngôn về làm tỉnh trưởng BT thay thế Trung Tá Tuân, còn Thiếu tá Hồ ứng Phùng làm tiểu khu phò và đại uý Lê văn Anh làm Tham mưu trưởng. Trước năm 1970, ÐPQ hoạt động cấp đại đội nhưng nổi danh nhất là ÐÐ/ÐPQ của Thiếu úy Thô Thêm tại quận Thiện Giáo. Ngoài ra còn có DD.445 của Trung úy Nguyễn thanh Xuân tại Chợ Lầu và Lương Sơn. ÐÐ443 của trung uý Nguyễn thanh Hải, từ năm 1970-1972 trưởng phòng 2.TK và thăng thiếu tá giữ chức xã trưởng CT Phan Thiết 1973-1975. ÐÐ 206 trinh sát của Đại uý Lê văn Trò . Trung đội tình báo TK của thiếu uý Nguyễn văn Thức, sau là TP2.TK năm 1968-1969. Mùa thu 1969, Đại tá Nghĩa làm Tỉnh trưởng thay Đại Tá Ngôn và cơ cấu TK gồm có TK Phó Trung tá Trí kiêm CHT/ÐPQ-NQ, trung tá Mai lang Luông, nguyên TDT-TD3/44/SD23 làm Tham mưu trưởng , TP 1/TK thiếu tá Mừng, TP2/TK là Đại uý Ngọc về sau Đại uý Đặng, TP3/TK là thiếu tá Trị, TP4/TK Trung Tá Hoạt, TK.Chiến tranh CT là thiếu tá Hồng, Trung tâm trưởng HC.Tiếp vận là thiếu tá Phạm Minh thay thiếu tá Chung. Quận trưởng Hàm Thuận là Trung Tá Dụng văn Đối, QT.Thiện Giáo Thiếu tá Lê văn Thông, bỏ chạy từ đầu tháng4/1975 và di tản qua Mỹ năm 1975, Thiếu tá Đặng chánh Anh,QT Phan Lý Chàm, Trung tá Diệp sắng Cảnh QT.Hải Ninh, QT.Hải Long Thiếu tá Hàng phong Cao,,QT.Tuy Phong là Thiếu Tá Hà văn Thanh và Trung tá Kiều văn Út, QT Hòa Đa di tản vào PT ngày 17-4-1975 nhưng không thông báo cho các đơn vị trực thuộc đang hành quân, việc này chính Phó Cửu giải thích là lúc đó nhân viên viễn thông của các chi khu đã được ông cho phép di tản chiến thuật trước, cho nên mới có tình trạng mất kiên lạc với các đơn vị. Theo tài liệu của Điệp Mỹ Linh trong HQ.VNCH ra khơi năm 1975, thì ngay khi Phan Rang thất thủ, nhiều tàu HQ đã được điều động tới yểm trợ và vớt lính ÐPQ tại các quận miền bác như HQ.07 tới Cà Ná, sau đó dược Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ.11 thay thế, chiến hạm này đã trúng đạn VC bắn từ bờ ra làm chết và bị thương nhiều người. Ngoài ra còn có Hải Vận Hạm Ninh Giang HQ.403, HQ 505, HQ 12...đậu đầy ngoài khơi PT, và họ là nhân chứng vì đã nghe được những tiếng kêu cứu của các đại bàng qua máy PR25, trong đó có tiếng Đại tá Nghĩa, khi VC đã tràn ngập trận địa. Từ năm 1970 về sau, trong đà cải tiến QLVNCH, các ÐÐ/ÐPQ được nâng cấp thành Liên Đội hay tiểu đoàn và tình hình phối trị ÐPQ-BT như sau, TÐ248/ÐPQ của Thiếu Tá Lê văn Trung tại Tuy Phong, TÐ212/ÐPQ của Thiếu tá Quân coi Lương Sơn, Sông Lũy. TÐ249/ÐPQ của Thiếu tá Phan Sang, BCH đóng tại núi Tà Ðôn, hoạt động tại Long Hiệp, Hòa Vinh, Tuỳ Hòa. TÐ202/ÐPQ của Thiếu Tá Lương văn Bính hoạt động tại Cây Táo,Long Thạnh. Hai TÐ275/ÐPQ của Thiếu tá Tư và TÐ230/ÐPQ của Thiếu tá Thổ Thêm, hoạt động tại Thiện Giáo. TÐ274/DPQ của Thiếu tá Bình hoạt động tại Bầu Gia,Phú Hội Thiếu Tá Bình chết tại trại tù ở Bắc Việt. Tại Bắc BT, BCH quân sự bãi bỏ nhưng thay vào đó là BCH Liên đoàn ÐPQ do Đại Tá Lại văn Khuy, nguyên Trung đoàn Trưởng TRD42/SD22BB về làm CHT. BCH Liên đoàn đóng tại xã Lương Sơn, đối diện với mật khu Lê Hồng Phong, gồm 2 TÐ248 và 212 ÐPQ, hành quân tại 4 quận miền bắc.

Từ tháng 3/1975, Bình Thuận không còn Trung Đoàn 44/SÐ23 và Chi đoàn 3/8/Thiết kỵ tăng phái, vì những đơn vị chủ lực quân này đã di chuyển hết lên cao nguyên năm 1972. Để bảo vệ an ninh cho thị xã Phan Thiết, từ năm 1970 lập thêm Yếu khu châu thành hay BCH/LÐ/ÐPQ/PT đóng tại trại Đinh công Tráng, trước sân vận động Quang Trung, kế trường trung học Bạch Vân, do thiếu tá Nguyễn văn Cư làm CHT. Về đơn vị Đồng Minh, quan trọng nhất vẫn là Bộ chỉ huy MACV/TKBT đóng tại khách sạn Hồng Hưng, đối diện với trường Tiến Đức, tức là PBC cũ trên đại lộ Trần Hưng Đạo. Để góp phần giải tỏa an ninh cho bốn quận miền bắc, cũng như lộ trình đường bộ trên QL1, từ Hòa Vinh tới Phan Rí, ngang qua mật khu Lê Hồng Phong dối diện vói các xạ Long Phú,Lương Son,Sông Lủy, Chợ Lầu ,Tịnh Mỹ, Hiệp An, Hiệp Hòa....cơ quan MACV đã phối hợp với TK Bình Thuận, thành lập lực lượng Dân Sự Chiến Đấu, BCH đóng tại trại Phi Long ở xã Lương Sơn, trại Phi Mã ở xã Phan Rí Thành cạnh Chi khu Hòa Đa, trại Phi Hổ ở ấp Tịnh Mỹ, xã Chợ Lầu, đồn Mara ở Sông Lũy. Tất cả doanh trại Lực lượng DSCD đều có bãi đáp trực thăng, còn các SQ,HSQ chỉ huy đều thuộc các toán A/LLDB VN và SQ-HSQ /LLDB Hoa Kỳ làm cố vấn. Chính họ đã vô hiệu hóa cái gọi là mật khu thành cây vách cát Lê Hồng Phong của VC, nơi trú ẩn của các tiểu đoàn địa phương 482 và 840 VC, cũng như Trung đoàn chính quy 812 Bắc Việt của quân khu 7 VC tăng phái. Năm 1970, các trại LLÐB tại Bình Thuận đóng cửa nên Biệt kích Mỹ hay LL/DSCÐ cũng giải thể để thành lập các ÐÐ/ÐPQ. Các cấp chỉ huy được mang quân hàm Thiếu úy, còn danh hiệu là ÐÐ 700,710,720,730/ÐPQ/BT, sau đó nhập chung thành Liên Đội 2/32/ÐPQ/BT do Thiếu Tá Nguyễn thanh Xuân chỉ huy, trách nhiệm bao vùng tư Lương Sơn, Sông Lũy , tới ngả ba Chợ Lầu-Sông Mao. Sau năm 1972, LÐ2/32/ÐPQ lại cải danh thành tiểu đoàn 2/212 do thiếu tá Quận chỉ huy cho tới lúc tàn cuộc. Về các đơn vị tăng phái, có Duyên Đòan 28 Hải thuyền, hoạt động bảo vệ vùng duyên hải Bình Thuận, từ mủi Đá Chẹt ở bắc Tuy Phong, vào tới Mũi Đèn Nam Bình Thuận, chỉ huy Duyên Đoàn từ đầu có Thiếu úy hải quân Nguyễn văn Thuận, cựu HS/PBC 1955-1962, đã chết trong lúc di tản. Duyên đoàn trưởng cuói cùng là HQ.Thiếu tá Việt và Duyên đoàn phó, Đại Uý HQ.Cát. Ngoài ra còn có Biệt đội quan sát L.19, thuộc Phi Đòan quan sát 215, SD2 Không quân từ Nha Trang tăng phái cho TK/BT giúp P2,3/TK bay quan sát bao vùng hành quân, mở đường và hướng dẫn pháo binh tác xạ. Về thiết kỵ, trước năm 1973 có các chi đoàn 2 và 3/8 thuộc SD23 tăng phái., tết mậu thân 1968 trung úy Hàng phong Cao làm chi đoàn trưởng 2/8 giải tỏa Phan Thiết, sau biệt phái về làm Quận Trưởng Hàm Thuận từ thời Đại Tá Ngô tấn Nghĩa, cho đoàn giao lại cho Đại Uý Đệ, nguyên ÐÐT 948 DPQ, lúc đó hoạt động tại Tuỳ Hòa và Phú Long., đại đội này về sau di chuyển ra Hòa Đa và giao cho Đại uý QB Mai xuân Cúc, nguyên trưởng ban 2/ quận Hòa Đa của Quận Đối làm Đại Đội Trưởng và những ngày cuối cùng là đơn vị đóng trong thị xã Phan Thiết cho tới sáng 19-4-1975, Bình Thuận hoàn toàn thất thủ, mới xuống tàu HQ tại Kim Hải, di tản về Vũng Tàu.

2. Hải Long, Mặt Trận Miền Ðông Bình Thuận, Những Ngày Hấp Hối Tháng 4/1975

Mũi Né là nơi mà VC Bình Thuận thường huênh hoang tự hào là cái nôi của phong trào Xô Viết Nghệ Tỉnh do Hồ quang Cảnh, con Hồ sĩ Lâm, sinh tại Nghệ An, cán bộ đảng cộng sản Đông Dương, vaò hoạt động tại Rạng và ngày 1-8-1930 đứng sau lựng giật dây , xuí đồng bào vô tội vào con đường chết trước súng đạn của thực dân Pháp và bọn quan lại Nam Triều tại Bình Thuận. Ông Hồ quang Cảnh đã chết trong ngục tù của Tây năm 1933 tại Ban Mê Thuộc. Mũi Né là quê hương của nhà văn, nhà thơ yêu nước Vũ Anh Khanh, tác giả "Tha La xóm đạo và nữa bồ xương khô", trong mặt trận VM suốt chín năm kháng Pháp, năm 1956 trên đường vượt thoát địa ngục trần gian có thật tại Bắc Việt, Ông đã bị bắn chết bằng tên tẩm thuốc độc, khi sắp vói được tay vào bờ nam Bến Hải. Mũi Né còn là tuyệt tác phẩm của VC về sự khủng bố,phá hoại, tiêu thổ kháng chiến... mà vết nhơ mãi mãi thiên thu trong dòng sử Việt và tâm trí dời đời của người Bình Thuận trong việc ngày 14-9-1947, tập kích đốt rụi toà biệt thự NID D’AIGLE, còn gọi là Tổ Chim Ưng hay Lầu Ông Hoàng, do công tước người Pháp là D’orléans xây dựng trên đồi Bà Nài vào tháng 2/1911, tốn hết 82.000 tiền Đông Dương lúc đó. Lầu Ông Hoàng còn là nơi ghi dấu mối tình thơ văn bất tuyệt của thi sĩ nổi tiếng Hàn Mạc Tử và Mộng Cầm, người đẹp Phan Thiết, cháu ruột nhà thơ xứ Quảng Bích Khê.

Thời nào Mũi Né cũng là một vị trí chiến lược, dồi dào hải sản, con mắt dòm ngó kiểm soát và uy hiếp mặt biển đường tiếp tế từ Hà Nội vào khu Lê Hồng Phong tại Hòn Rơm, Thiện Khanh, Thiện Nghiệp... cho nên trong suốt cuộc chiến, VC luôn tìm cách chiếm lĩnh khu vực này nhưng luôn luôn bị thất bại. Mũi Né là một mũi đât nhỏ nhô ra biển, chiều dài 3km, chiều ngang chừng 1,5km, cách Phan Thiết 22 km, phía bắc là động cát trắng, nối tiếp với rừng Bình Nhơn, cây cồi thưa cằn. Trong thị trấn quận lỵ có hai xã Thạch Long, Khánh Thiện, dân chúng làm rẩy, nhưng đại đa số sống bằng nghề biển và muối mắm. Vì là cái gai cần phải nhổ, nên ngày 14-4-1953 VC dánh chiếm và làm chủ Thạch Long trong 10 ngày, sau đó bị đuổi dánh khỏi Mũi Né cho tới ngày 19-4-1975 mới mò vào khi quận lỵ đã bỏ ngỏ.

Theo VC, từ sau năm 1970 qua chương trình bình định của Đại Tá Nghĩa, đã khiến các cơ sở nằm vùng cũng như bộ đội trong tỉnh lâm vào tình trạng gần như bế tắc và bị tổn thất nặng nề, trong đó phần lớn do mìn Claymore gây ra. Từ sau Phước Long thất thủ vào đầu năm 1975, tiếp theo là Ban Mê Thuột mất ngày 14-3-1975, VC Bình Thuận bắt đầu ngoi lên và phá hoại khắp nơi như đốt các cây xăng số 6,8, tấn công đồn cảnh sát Đức Long. Từ ngày 5-4-1975, Chi Khu Thiện Giáo di tản chiến thuật trên Liên tỉnh lộ 8. Nhân dịp này, thiếu tá quận trưởng Lê văn Thông đã trốn về Sài Gòn nhưng binh sĩ dưới quyền vẫn không rã ngũ vì được Đại Úy Chi khu phó Lê văn Tuấn, chỉ huy cho tới lúc tàn cuộc. Theo tự sự của Trung Úy Lê Ngữ, phân chi khu trưởng PCK Thiện Khánh, một xã chiến lước, cửa ngỏ phía nam dẫn vào thị trấn Mũi Né, thì từ năm 1973 về sau, do tình hình an ninh khả quan, nên đơn vị nồng cốt, hoạt động lâu đời tại đây là ÐÐ290/ÐPQ/BT đã thuyên chuyển về cây số 25, phía nam Bình Thuận-Bình Tuy, quận Hàm Thuận, vì vậy an ninh nội địa đều do các Liên đội Nghĩa quân của các Phân chi khu đãm trách. Lãnh thổ chiến thuật của Thiện Khánh(Rạng) có chiều dài trên 7 km, kéo dài từ Đá Ông Địa phiá nam dốc Lầu Ông Hoàng, tới Cầu Thiện Nghiệp về phía bắc, với lực lượng phòng thủ gồm 5 Trung đội Nghĩa quân phụ trách, trong đó quan trọng nhất là tuyến chận mũi công tác Hồng Hải của VC, gồm có ba trung đội thường xuyên hành quân tại khu tứ giác từ Triền tới rừng Tà Quang.

Tại Bình Thuận, từ đầu tháng 4-1975, gần như tràn ngập người tị nạn khắp miền Trung đổ xô về bằng đủ mọi phương tiện, đường bộ, tàu thuyền ... và được Ty Xã Hội trợ cấp giúp đở tận tình. Để giải toả bớt căng thẳng trong thị xã, từ ngày 13-4-1075, Tỉnh cho thành lập tại Thiện Khánh và Thiện Nghiệp các trung tâm tiếp cư tạm thời dưới các rặng dừa và sân vận động, để chờ tàu HQ vào di tản họ tới Vũng Tàu. Do trên tình hình tại Hải Long thêm phức tạp, một phần từ những phần tử xấu như đào binh, đặc công trà trộn gây rối loạn, cũng như công khai cướp bốc tài sản của dân chúng tại địa phương. Mặt khác, bọn VC nằm vùng thừa cơ hội dậu chưa đổ, nhưng bìm đã leo khắp nơi với sự ra đời của cái gọi là ủy ban khởi nghĩa, may sẳn cờ, khẩu hiệu .. .và các đội tự vệ võ trang em bé quàng khăn đỏ ...

Từ ngày 15-4-1975, tình hình Hải Long càng thêm nặng nề vì có nhiều đơn vi từ QD1 và 2 ngoài Trung đến đây bằng đường biển. Vì không thể để cho họ kéo về Phan Thiết, nên Quận Trưởng là Thiếu Tá Cao d8ã cho lập tại Thiện Khánh một nút chận chiến lược, thanh lọc và tước bỏ vũ khí các quạn nhân di tản. Tóm lại, theo Lê Ngữ, thì tới ngày 17-4-1975 Chi Khu Hải Long chưa loan và tất cả các đại bàng kể cả quận trưởng Hàng phong Cao vẫn có mặt , trong các vị trí phòng thủ gần như 24/24. Tại cứ điểm Phú Long trên QL1, VC tung vào D15 và 840 quyết chiếm cho được cầu để đại quân di chuyển nhưng bị sự chống trả rất mảnh liệt của các Dơn vị DPQ-NQ, trong đó có DD của Đại Uý Nguyễn Chánh Trúc, người PT, cựu học sinh PBC 1955-1963. Ngày 18-4-1975, quân đoàn 2 Bắc Việt, từ Phan Rang đã vào tới Phú Long, cho lữ đoàn xe tăng và bộ binh tiền phương, hợp lực với VC Bình Thuận nhổ toán ÐPQ.BT tại Phú Long, Phước Thiện Xuân, Tân Phú Xuân bên tỉnh lộ 8. VC cũng pháo kích vào BCH1 của TKBT tại Lầu Ông Hoàng, cắt đứt đường đi Mủi Né, khiến cho đồng bào tị nạn tại Rạng, lại bồng bế đổ xô về Quận, tìm cách đào sanh. Cũng trong đêm 17-4-1975, nhờ còn túc trực tại các công sự phòng thủ, nên Trung Úy Ngữ đã kịp thời liên lạc được với 1 ÐÐ/ÐPQ của Trung Úy Lợi, rút từ Giếng Triền, qua Bầu Sen về Mũi Né, thoát được bãi mìn của Phân chi khu Thiện Khánh. Nữa đêm rạng sáng 18-4-1975, Ngữ liên lạc máy, gặp Đại Uý Vương Thanh, Chi khu phó cho biết BCH Chi Khu Hải Long trong đó có Thiếu Tá Hàng phong Cao đã được Duyên đoàn vớt, và ban lệnh từ giớ phút đó, vì tình hình khắp Tỉnh đã trở nên nguy ngập do sự tràn ngập của các lộ quân Bắc Việt từ Phan Rang, Lâm Đồng tràn về, nên các đơn vị tuỳ tiện di tản sao cho an toàn và bằng mọi cách kiếm tàu thuyền chạy về điểm tập trung quân BT tại Vũng Tàu.

Lúc này, Đại Tá Nghĩa cùng BCH cũng đã bỏ Lầu Ông Hoàng, theo đường biển rút về Thương Chánh, trong lúc đó ngoài khơi, tàu HQ qua lại đông đảo nhưng mặc dù nghe máy PRC25 kêu cứu của Tỉnh Trưởng cũng vẫn bó tay vì tàu lớn không thể nào áp sát bờ được, hơn nữa pháo VC từ bờ lại bắn ra tàu như mưa. Tính đến 9 giờ đêm ngày 18-4-1975, VC đã chiếm được TK,Toà HC và các kho trống không vì Thiếu Tá Phạm Minh,CHT/TTTV/BT trước khi đi đã cho thiêu hủy hết, còn các nhà máy điện cũng không hoạt động được vì Phó Cửu cũng đã cho phá trước khi di. Tuy nhiên ven Phan Thiết, vẫn còn nhiều đơn vị ÐPQ chống trả và tại bải Kim Hải, QLVNCH vẫn còn làm chủ cho tới hết ngày 19-4-1975. Tại Hải Long, ngày 18-4-1975 VC vẫn chưa dám bén mản tới vì còn nhiều đơn vị VNCH hiện diện, thêm vào còn có DD290/DPQ của Đại Uý Sâm, từ LOH cũng rút về Mũi Né, tìm đường ra biển. Cuối cùng trước khi VC tới Mũi Né ngày 19-4-1975, thì một chiếc xà lan đã ủi bãi tại Thạch Long, vớt hết quân nhân có mặt, đưa ra tàu HQ 505 về Vũng Tàu, cùng lúc với Đại Tá Nghĩa cũng vừa tới bằng tàu HQ khác tại PT. Bắt đầu ngày 20-4-1975, BT coi như đã lọt vào tay Hà Nội, VC lập ra ủy ban quân quản thị xã, do thiếu tá VC Từ quảng Tuyên làm Chủ tịch, khắp nơi lập ra 16 địa điểm để các quân, công, cán, cảnh VNCH tới khai báo trình diện, để cùng nhau vào địa ngục trần gian tại Cà Tót, Huy Khiêm,Sông Mao và mọi nẽo đường tận tuyệt.

Cuộc chiến đã qua nhưng không bao giờ xoá nhòa nổi vết tích trong tâm trí người Việt. Vinh hay nhục thì nay đã được lịch sử xác nhận, nên không cần phải ca ngợi hay biện minh về cái thua hay cái thắng, một công việc thừa thải khi mặt thật của cộng sản Hà Nội được phơi bày suốt 27 năm qua, nên :

"Mai nếu có cuộc đổi đời trở lại
Ta chỉ xin được đăng báo, phân ưu
Ðồng đội xưa đã chết trận, chết tù
Thảm thiết quá những hồn ma đói lạnh ..."


Mường Giang

XB chạp 2002

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

- Tự sự của Đại Tá Ngô Tấn Nghĩa,Tỉnh Trưởng BT
- Phạm Ngọc Cửu,Phó tỉnh trưởng HC.Bình Thuận
- Trung Tá Dụng văn Đối, Quận Trưởng Hòa Đa
- Đại Uý Mai Xuân Cúc, DDT/DĐ84DPQ
- Lê Ngọc Lan, Quận Đoàn Trưởng XDNT/HT va HD
- Trung Úy Lê Ngữ, Phân Chi Khu Trưởng PK.Thiện Khánh, Hải Long
- 55 ngày đêm sụp đổ VNCH của Chánh Đạo
- Hải Quân VNCH ra khơi năm 1975 của Điệp Mỹ Linh
- Sài Gòn tuyết trắng của Vũ Thụy Hoàng
- Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh
- Riêng viết tặng DU.Mai Xuân Cúc và Trung Úy Lê Ngữ