13 Liệt Sĩ VNQDÐ Lên Ðoạn Ðầu Ðài
Ngày 17/6/1930

Tài Liệu Của VNQDÐ


1

Sáng ngày 23 tháng 3, hai đội lính Khố xanh võ trang dưới quyền chỉ huy của giám binh Cases, phụ tá có rất đông thám tử do thanh tra mật thám la Reiner phụ trách áp giải 83 chiến sĩ VNQDÐ từ ngục thất tỉnh Yên Bái ra trước Hội đồng Ðề hình, nhóm phiên xử công khai tại trại binh tỉnh Yên Bái, Poulet Osier ngồi ghế chánh án. Bởi phòng xử quá hẹp, nên chỉ có mấy chục người vừa Pháp vừa Việt, là những người có thần thế mới được vào xem xử mà thôi.

Ðể chứng tỏ công bằng, một sự công bằng chỉ huy, chính quyền thực dân cử 4 luật sư: Mandrette, Bona, Mayet va Demistre ra biện hộ cho bị cáo.

Bắt đầu buổi họp, hội đồng đề hình tuyên bố tha bổng cho các bị cáo: Vũ Hữu Hóa, Nguyễn Văn Trung, Ðỗ Văn Ninh, Lê Văn Châu, còn lại 83 bị cáo chia ra như sau:

- 1 phụ nữ (Nguyễn Thị Bắc)
- 37 thường dân
- 45 binh sĩ

Người bị gọi ra thẩm vấn đầu tiên là Nguyễn Thái Học. Với thái độ chững chạc, bình tĩnh, Nguyễn Thái Học nhận hết trách nhiệm, và toan phân trần về lý do chính trị của cuộc khởi nghĩa, liền bị chủ tịch hội đồng chủ tịch chặn lại không cho nói. Nguyễn Thái Học nói to:

- Nếu vậy thì cái tòa này là nơi đem cường quyền mà đàn áp công lý, ta còn nói nữa mà làm chi! Và ta cũng không cần ai biện hộ cả!

Ðến Phó Ðức Chính, Chính tỏ thái độ cương quyết, tự nhận là ủy viên tuyên truyền cổ động các tỉnh, thảo truyền đơn giải cho các binh sĩ khuyên họ làm cách mạng, thảo chương trình kế hoạch tổng khởi nghĩa..

Nguyễn Thị Bắc phản đối kịch liệt, đòi thả cô ra ngay, và hô to:

"Các người về ngay nước Pháp mà kéo đổ tượng Jeanne d'Are đi thôi"

Các chiến sĩ khác đều dũng cảm công nhận là có gia nhập VNQDÐ với mục đích là đánh đuổi người Pháp ra khỏi Việt Nam giành lại quyền độc lập cho Tổ quốc.

Sau rốt đến lượt các luật sư biện hộ với một luận điệu xin Hội đồng xét xử cho công bằng. Chỉ nên làm tội những người chủ mưu xướng xuất mà thôi, và nên dung thứ cho những người a tòng.

Ðến hồi 10 giờ sáng hôm sau, Hội đồng Ðề hình tuyên án:

- 39 người bị án tử hình
- 33 người bị án khổ sai chung thân
- 9 người bị án 20 năm khổ sai
- 5 người bị án tội đày trong số có cô Nguyễn Thị Bắc 5 năm tù ở.

Ðể mong gỡ nhẹ phần nào cho các đồng chí, Nguyễn Thái Học đã ký chống bản án lên Hội đồng Bảo Hộ để cho các đồng chí noi theo duy Phó Ðức Chính không ký chống án. Poulet Osier hỏi tại sao. Họ Phó đáp:

"Ðại sự đã không thành! Chết là vinh! Còn chống án làm gì vô ích!"

2

Sau khi Hội đồng đề hình xử xong, Nguyễn Thái Học cùng các đồng chí của ông, bị đưa về nhà giam tại ngục thất Hỏa Lò Hà Nội.

Nhận thấy Hội đồng đề hình kết án tử hình tuy khá nhiều nhưng trước khi thi hành bản án, còn phải gửi qua Ba Lê (Paris) để Tổng Thống quyết định. Sự quyết định ấy là ân giảm, làm cho giới thực dân ở Pháp không bằng lòng. Các báo chí Pháp ở Ðông Dương đều la lớn: "Phải già tay như vậy mới được. Chém cổ chúng nó ngay đi, còn chờ đợi gì nữa!" Có báo lại viết: "Có lẽ là bên Ba Lê cứu tội chết cho mấy chục cái đầu ấy chăng!"

Các đại biểu Pháp (les élus) ngoài Bắc cũng như trong Nam cùng họp nhau gửi điện tín về Ba Lê, yêu cầu chính phủ Pháp cho phép Toàn quyền Ðông Dương được rộng quyền xử tử những việc rối ren trong xứ, nghĩa là Toàn quyền Ðông Dương được y án chém, khỏi phải gửi hồ sơ qua Pháp nữa.

Ngày 31 tháng 3 năm 1930, tin từ Ba Lê gửi qua: "Thuộc địa Thương Thư trả lời: luật lệ nhà nước đã định ra như vậy, chỉ có Tổng Thống mới có quyền ân xá cho phạm nhân, chớ không có thể làm traí luật nước đi, mà để cho chính phủ Ðông Dương có quyền ấy được. (1)

3

Ngày tháng trôi qua, đến đầu tháng 6, một công điện từ Ba Lê đánh sang Hà Nội, báo tin Tổng Thống Doumergue đổi 27 án tử hình ra án khổ sai chung thân, (2) còn lại 13 người bị y án. Nhưng tin ấy Chính quyền thực dân hết sức giữ bí mật.

Mãi đến chiều ngày 16 tháng 6, một đội lính lê dương cùng một số nhà chức trách tiến vào giẫy sà lim án tử hình, kêu tên Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí của ông xích tay 2 người làm một đưa ra đi.

Từ trong sà lim án chém bước ra trại giam ngoài, Nguyễn Thái Học hô to:

"Chúng ta đi trả nợ nước đây!" Các anh em còn sống cứ công nào việc ấy nhé! Cờ độc lập phải nhuộm bằng máu. Hoa tự do phải tưới bằng máu! Tổ quốc còn cần đne sự hy sinh của con dân nhiều nữa! nhiều nữa! Rồi thế nào cách mạng cũng thành công! Thôi kính chào các anh em trở lại.

(1) Theo tài liệu của Tuần báo "Phụ nữ Tân văn" Saigòn.

(2) 27 án tử hình được giảm xuống khổ sai chung thân là các chiến sĩ: Nguyễn Văn Thân tức Ký Thân, Vũ Tích, Lê Văn Tư, Nguyễn Ðình Hiên, Nguyễn Văn Ty, Nguyễn Văn Ông, Bùi Văn Dụ, Bùi Văn Tuyết, Cao Văn Chính, Mai Viết Chính, Hoàng Văn Vọng, Nguyễn Văn Khôi, tức Thanh Giang, Hà Cập, Nguyễn Văn Tinh, Nguyễn Văn Kiệm, Nguyễn Văn Toàn, Nguyễn Ðắc Bằng, Nguyễn Văn Chu, Nguyễn Như Thông, Vũ Xuân Kiểm, Trần Ðức Tài, Hoàng Công Tiển, Nguyễn Văn Chinh, Nguyễn Ðức Liên, Mai Duy Xứng, Nguyễn Văn Liên..

"Tiếng chào anh em ở lại" hòa với tiếng la ó cảm động của phạm nhân trong khắp các trại giam, trở nênn vang động khắp khu hỏa lò.

Ðể giữ kín đến phút cuối cùng, Nguyễn Thái Học cùng 12 đồng chí của ông được đưa đi trong một buổi hoàng hôn ảm đạm từ Hà Nội đi Yên Bái bằng một chuyến xe riêng.

Một đoàn xe hơi thuộc loại fourgonnette đen bọc lưới sắt từ trong cổng ngục thất hỏa lò tiến ra, ngoài số 13 chiến sĩ, số lính võ trang súng ống rất đông cùng ngồi trong xe canh chừng rất nghiêm ngặt. Ðoàn xe lướt nhanh qua đường Jean Soler rẽ ra đại lộ Carreau chạy thẳng ra đường Hàng Lọng, rồi rẽ tay trái thẳng tới ga Hàng Cỏ. Hai bên dọc đường đều có rất đông lính canh gát rất cẩn mật.

Khi đoàn xe vừa vượt qua đường Jean Soler, thì có một số khoảng hơn 20 người, trước đó đứng tản mác mỗi người một nơi trước khu vườn trồng rau bên cạnh sở căn cước cũ, vội xô cả ra lề đường, thì trên xe phát ra những tiếng hô to: "VIỆT NAM MUÔN NĂM" "VIỆT NAM QUỐC DÂN ÐẢNG MUÔN NĂM" vang động rền trời, đồng thời một mảnh giấy cũng được vứt từ trên xe thứ 3 xuống mặt đường.

Một số người đứng trên lề đường cũng vừa hô to những khẩu hiệu như trên, rồi ùa nhau ra đường để nhặt mảnh giấy ấy, nhưng đồng thời chiếc xe hơi cũng ngừng ngay lại, một số lính đứng trên xe vội nhảy xuống đường giành giựt mảnh giấy ấy. Số lính đứng gát hai bên lề đường cũng ùa nhau đuổi theo bắt đánh những người đã nhặt được mảnh giấy ấy. Kết quả bọn lính trên xe hơi đã cướp lại được, rồi vội nhảy lên xe hơi, rồ máy chạy nhanh. Người ta còn vẳng nghe tiếng kêu của những phạm nhân ở trên xe hơi, có lẽ anh em đã bị lính đánh đập tàn nhẫn.

Trong chuyến xe lửa riêng này có mấy viên thanh tra mật thám, Pháp và một số mật thám ta, viên giám binh người Pháp và một đội lính khố xanh đi kèm. Ngoài ra còn có hai ông Cố đạo: Méchet và Dronet. Trong chặng đường trường dài 4 tiếng đồng hồ, tất cả đều chuyện trò vui vẻ. Phó Ðức Chính nói:

"Chúng ta đến ga Yên Bái, chắc chắn sẽ được các đồng chí Lương, Tiệp, Thuyết, Hoằng ra đón rước nồng hậu."

Nguyễn Thái Học đấu khẩu với Cố Dronet:

"Chúng tôi chỉ là những kẻ chiến bại, chứ đâu phải là kẻ có tội"

"Chúng tôi có phạm tội gì đâu! mà phải ăn năn thú tội!" Rồi nhà cách mạng họ Nguyễn ngâm mấy câu thơ Pháp:

"Mourir pour sa patrie, (1)
"C'est le sort le plus beau
"Le plus digne d'envie.."

Cái máy chém cũng được đưa lên một cách lén lút như vậy. Trong thành phố Yên Bái không ai ngờ có chuyện đó.

Pháp trường là một khu đất trống, giống như bãi đá banh, xung quanh có mấy giẫy nhà gạch một tầng mới cất, đó là trại binh khố xanh và nhà tiếp đón khách vãng lai của chính quyền.

Bên cạnh máy chém, thực dân cho để thêm 15 chiếc hòm gỗ (quan tài).

Họ phải đề phòng như vậy, 18 phút cuối cùng e có sự thay đổi bất thần chăng? Xung quanh pháp trường có 400 lính được phái đến vây kín. khiến việc mang bom của cô Giang dự định phá phát trường không hoạt động gì được. Công chúng người dân Việt ta không lấy gì làm đông đảo, và hoàn toàn im lặng đau xót! 5 giờ kém 5 phút, toán người đầu tiên từ nhà giam tiến đến pháp trường: 4 bộ binh mang súng có lưỡi lê, 2 bộ binh tay không để đề phòng sự té xỉu của phạm nhân trong khoảng đường ngắn đó, nhưng không có một phạm nhân nào té xỉu, dẫn đầu là viên công xứ De Bottini. (1) "Chết vì tổ quốc
"Lòng ta sung sướng
"Trí ta nhẹ nhàng

Cả bọn tiến đến gần máy chém, đao phủ thủ là cai Công (2) dắt BÙI TỬ TOÀN 37 tuổi, nông dân, sinh quán tại làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, đẩy vào tấm ván vừa bằng một người bắc nối vào lỗ máy chém. BÙI TỬ TOÀN mới hô được tiếng "VIỆT NAM" liền bị lính lê dương bịt miệng lại, rồi đao phu thủ liền giật lưỡi dao phật xuống. Người thứ hai tiến lên máy chém là:

BÙI VĂN CHUẨN, 35 tuổi, thuộc Binh đoàn Yên Bái, Bùi Văn Chuẩn mới hô to được tiếng "VIÊT NAM", thì cũng bị lính lê dương bịt miệng lại, và Cai Công cũng giật lưỡi dao ngay. Người thứ ba là:

NGUYỄN AN, 31 tuổi , thuộc Binh đoàn Yên Bái, Nguyễn An cũng hô to được tiếng "VIÊT NAM" rồi bị chém. Người thứ 4 là:

HÀ VĂN LAO, 25 tuổi thợ hồ, cũng chỉ hô to được tiếng "VIÊT NAM " rồi bị chém. Người thứ 5 là:

ÐÀO VĂN NHÍT thuộc Binh đoàn Yên Bái, Ðào Văn Nhít mới hô to được tiếng "VIÊT". Người thứ 6 là:

(2) Dưới thời thực dân Pháp, người giật lưỡi dao chém mà thực dân gọi là phạm nhân, ấy là Cai Công, là một giám thị trong ngục thất Hỏa lò Hà Nội, phụ tá Cai Công là Cai Long cùng là giám thị cùng một thất. Cứ chém xong một phạm nhân, Cai Công xách thủ cấp giơ lên cao để trình bầy, như vậy là hành hình xong một phạm nhân, Cai Công được thưởng một món tiền nhất định, nhưng quên không rõ là bao nhiêu?

Những ngày bị giam ở ngục thất Hỏa lò về vụ án Bazin, chung thường gặp Cai Công, người thấp và mập, nhưng có một điều lạ, là mặt y lúc nào cũng đỏ rực, giống hệt như một con qủy khát máu hiện hình.

Cứ mỗi năm vào ngày rằm tháng 7, ngày "xá tội vong linh", y đều sắm lễ vật cúng những linh hồn mà y đã chém, nhưng vợ chồng y vẫn không tránh thoát được tai nạn "Hữu sinh vô dưỡng".

Bị giam ở sà lim, phía sau có gác bộ phận máy chém, cứ mỗi đêm khuya, mọi người đều nghe rõ có tiếng máy chém kêu "Leng Keng", thì y như là cách ngày hôm sau, chiếc máy chém ấy được hạ xuống để đem chém người.

NGÔ VĂN NHU (1) thuộc Binh đoàn Yên Bái. Người thứ 7 là:

NGUYỄN ÐỨC THỊNH, thuộc Binh đoàn Yên Bái, Nguyễn Ðức Thịnh cũng chỉ hô to được tiếng "VIÊT NAM". Người thứ 8 là:

NGUYỄN VĂN TIỀM thuộc Binh đoàn Yên Bái, Nguyễn Văn Tiềm cũng chỉ hô to được tiếng "VIÊT". Người thứ 9 là "

ÐỖ VĂN XỨ, thuộc Binh đoàn Yên Bái, cũng chỉ hô to được tiếng "VIÊT NAM". Người thứ 10 là:

BÙI VĂN CỬU, thuộc Binh đoàn Yên Bái, cũng chỉ hô to được tiếng "VIÊT". Người thứ 11 là:

NGUYỄN NHƯ LIÊM tức Ngọc Tỉnh, 20 tuổi học sinh, quán làng Cao Mại, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ, cũng chỉ hô to được tiếng "VIỆT NAM". Ðến người thứ 12 là:

PHÓ ÐỨC CHÍNH, nhà cách mạng họ Phó đòi thực dân cho nằm ngửa để xem lưỡi dao rớt xuống như thế nào? Tiếp đến:

NGUYỄN THÁI HỌC, được thực dân dẫn từ nhà giam ra lần cuối cùng , lần thứ 13. Người anh hùng dân tộc ấy với bộ râu quai nón, mỉm cười, đưa cặp mắt sáng quắc nhìn bốn phía, nghiêng mình chào đồng bào một lần cuối cùng hô to: "VIÊT NAM MUÔN.. thì Công sứ De Bottine liền vẫy tay lần thứ 13, đầu Nguyễn Thái Học rơi (1) lúc đó vào hồi đúng 5 giờ 35 phút sáng ngày 17 tháng 6 năm 1930 tức ngày 21 tháng 5 Canh Ngọ (2).

(1) Không rõ lý do nào, mà Ngô Văn Du luôn mồm kêu là bị chết oan. Phó Ðức Chính nói: "Ðúng vậy, đầu tôi có thể thay thế cho 3 đầu mà đầu của anh Du là thừa"

Ðể đề phòng và trả thù xác chết, sau khi hành quyết xong, chính quyền thực dân cho đưa thi hài 13 vị liệt sĩ lên chôn chung vào một huyệt ở dưới chân đồi CAO, bên cạnh là đền thờ Trần Quán, cách ga xa lửa Yên Bái độ một cây số. Phái lính đến canh gác suốt ngày đêm, cho mãi đến cuối năm 1930 mới bãi lệnh (3).

Sau ngày VNQDÐ chiếm đóng tỉnh Yên Bái vào cuối tháng 10 năm 1945, Tỉnh Ðảng bộ VNQDÐ đã tu bổ lại phần mộ 17 vị liệt sĩ Yên Bái và dựng đài kỷ niệm.

NGUYỄN VĂN TOAI CÙNG 4 ÐỒNG CHÍ LÊN MÁY CHÉM

Ngày 26 tháng 5 năm 1930, Hội đề hình họp phiên xử công khai tại một nhà kho rộng, bên cạnh Tòa sứ tỉnh Phú Thọ, chủ tịch Hội đồng đề hình: Poulet Osier thanh tra chính trị bận lễ phục trắng, ngồi ghế chánh án. Lính sen đầm và lính lê dương đứng xung quanh tường súng cắm lưỡi lê, làm thành một hàng rào.

(1) Theo tài liệu Louis Roubaud trong cuống "Việt Nam bi thảm" nơi trang 154-155-158-160-161.

(2) Xem bài văn tế của cụ Phan Sào Nam ở "Thiên Mụ"

(3) Giữa thời thực dân toàn thịnh ấy, giữa thời thực dân đại khủng bố phong trào cách mạng dân tộc ấy, đã có một công dân Việt Nam là ông Tạ Giao Hiền hội đồng địa hạt làng Hòa Bình, thuộc tỉnh Bắc Liêu (Nam Việt), đã dám từ Nam ra Bắc tìm người hướng đạo đi viếng mộ Nguyễn Thái Học, nhưng không ai dám lãnh nhiệm vụ ấy. Cuối cùng họ Tạ phải tìm đến làng Thổ Tang, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên, nhờ vị thân mẫu Nguyễn Thái Học dẫn đến Yên Bái viếng mộ phần 17 vị anh hùng.

Chúng tôi cũng ghi thêm ở đây rằng: Ông Tạ Giao Hiền là người đã săn sóc thuốc men cùng góp phần lo liệu khi cụ Phan Tây Hồ tạ thế tại Saigòn, và cũng là người đã kịch liệt đả kích nhóm lập biến của ông Bùi Quang Chiêu ra mặt tại nhà Hát lớn Saigòn.

Có hai luật sư biện hộ cho 85 bị cáo, trong số có một phụ nữ là chị Nguyễn Thị Lùn (1).

Nguyễn Văn Toại tức Ðồ Thúy mặc áo dài thâm quần trắng, trên mép để ria, ông tỏ ra nóng nảy, Tòa hỏi chưa hết câu, ông đã nói rằng:

- Tôi nhận hết.

- Tại sao tòa chưa hỏi mà anh lại trả lời?

- Tòa muốn buộc tội gì, tôi cũng chịu hết.

Một bị cáo khác được gọi, tòa hỏi:

- Anh có phải là Ðảng viên VNQDÐ không?

- Tôi chỉ là người Việt Nam. Tôi thương xót đồng bào tôi bị cực khổ quá, cho nên tôi tham gia vào công cuộc tấn công đồn binh Pháp ở Hưng Hóa.

Lại một người khác khai:

- Tôi không được tham dự vào cuộc tấn công đó, vì tôi đau mắt nặng, nếu tôi không bị đau mắt nặng, thì tôi nhất định làm như mọi người khác.

Ðến lượt một bị cáo 15 tuổi được gọi ra khai:

- Tôi giúp anh tôi làm một điều công lý. Nói vừa dứt câu, thì bị Poulet Osier đuổi về ngồi chỗ cũ.

(1) Nguyễn Thị Lùn nguyên quán tại làng Chu Hóa, phủ Lâm Thao tỉnh Phú Thọ, bị HÐÐH kết án 20 năm cấm cố.

Rồi đến một người công dân chừng 40 tuổi, anh khai:

- Tôi chẳng có chân trong hội kín, hội hở nào cả! Tôi chỉ là người Việt Nam! Tôi có bổn phận phải đánh đuổi người Pháp ra khỏi lãnh thổ nước tôi, để khôi phục lại nền độc lập cho tổ quốc tôi (1).

Nguyễn Thị Lùn khẳng khái nhận hết tội, mà Hội đồng đề hình buộc là tuyên truyền, liên lạc và chuyển vận võ khí v.v.

Trần Văn Hợp đứng lên cải rất hùng hồn, nhưng Poulet Osier đuổi về không cho phép anh được nói tiếp.

85 bị cáo, mà tòa chỉ xử trong có 3 phiên chớp nhoáng, rồi tuyên án:
- 10 người bị tử hình
- 27 người bị khổ sai chung thân
- 37 người bị cấm cố chung thân
- 4 người bị 20 năm khổ sai
- 1 người bị 5 năm khổ sai
- 3 người 20 năm cấm cố
- 2 người bị phạt giam trong nhà trừng giới
- 1 người được tha bổng

10 án tử hình là: Trần Văn Hợp, Bùi Văn Bồi, Lê Xuân Huy, Bùi Xuân Mai, Nguyễn Ðắc Bằng, Nguyễn Văn Quế, Nguyễn Văn Toại, Phạm Nhận, Lê Ðình Cư, Vũ Văn Mô

(1) Ký giả Louis Roubaud viết trong cuốn "Việt Nam bi thảm" nơi trang 126 rằng: "Tại Phú Thọ, tôi đã được mắt thấy những người nhà quê không có chân trong đảng phái nào mà cũng nức lòng theo cách mạng. Vậy tại sao lại bảo cuộc cách mạng ấy là chỉ do một nhóm người trí thức bất mãn nổi lên.

Bản án gửi qua Ba Lê, Tổng Thống Pháp giảm 5 án xuống khổ sai chung thân, và y án tử hình 5 liệt sĩ dưới đây:

NGUYỄN VĂN TOAI tức Ðồ Thúy, 33 tuổi, nguyên quán Lâm Thao, Phú Thọ.

TRẦN VĂN HỢP, nguyên quán tại Thanh Ba, Phú Thọ.

PHAM NHẬN tức Ðồ Ðiếc (?)

LÊ XUÂN HUY, 31 tuổi, nông dân, quán cổ Pháp, Bất Ðạt, Sơn Tây.

BÙI XUÂN MAI, nông dân, nguyên quán Cổ Pháp, Bất Bạt, Sơn Tây.

5 vị anh hùng dân tộc ấy đã lên máy chém thực dân tại tỉnh Phú Thọ sớm ngày 22 tháng 11 năm 1930, tức ngày mồng 3 tháng 10 năm Canh Ngọ.