Trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974

Phần 2 : Những Diễn Biến Quan Trọng



III. Những Diễn Biến Trước Trận Hải Chiến

Vụ tranh chấp chủ quyền tại Biển Ðông đột ngột trở nên sôi động vào ngày 11-1-1974 khi Trung Cộng ngang nhiên tuyên bố các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đang nằm trong tay Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là một phần lãnh thổ của họ. Ðể làm hậu thuẫn cho những lời tuyên bố vô căn cứ, Trung Cộng (TC) phái nhiều tầu đánh cá võ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa và đổ quân giả dạng ngư phủ lên các đảo không có lực lượng VNCH chiếm đóng.

Ngay ngày hôm sau 12-1-74, Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc của VNCH đã cực lực bác bỏ luận điệu ngang ngược và lên án hành động xâm lăng gây hấn của Trung Cộng, đồng thời Bộ Tư Lệnh HQ/VNCH cũng chuẩn bị tăng cường chiến hạm tuần tiễu tại vùng biển Hoàng Sa. Lúc đó, chỉ có một trung đội Ðịa Phương Quân thuộc chi khu Hòa Vang thuộc tiểu khu Quảng Nam gồm 24 người đóng tại đảo Hoàng Sa cùng với 4 nhân viên thuộc đài khí tượng. Các đảo khác trong nhóm Nguyệt Thiềm không có quân VNCH trú đóng.

Trong các ngày kế tiếp, TC tiếp tục đổ người lên các đảo khác. Tính cho đến ngày 15-1-74, quân TC đã chiếm đóng các đảo Cam Tuyền (Robert), Vĩnh Lạc (Money), Quang Hòa (Duncan) và Duy Mộng (Drummond).

1. Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16) tới Hoàng Sa

Ðể bảo vệ chủ quyền chính đáng tại Biển Ðông, ngày 15-1-74, BTL/HQ/VNCH ra lệnh cho HQ-16 trực chỉ Hoàng Sa để tăng cường cho lực lượng trú phòng, đồng thời dùng biện pháp ôn hòa yêu cầu lực lượng Trung Cộng rời khỏi lãnh hải VNCH. Tuần Dương Hạm (TDH) Lý Thường Kiệt còn chở thêm một phái đoàn Công Binh 7 người thuộc BTL/Quân Ðoàn I do Thiếu Tá Hồng làm trưởng đoàn. Phái đoàn này có nhiệm vụ thám sát địa thế để thiết lập một phi trường nhỏ trên đảo Hoàng Sa. Ngoài ra, còn có một người Hoa Kỳ bận đồ dân sự tên Emile Gerald Kosh thuộc Tòa Tổng Lãnh Sự Hoa Kỳ tại Đà Nẵng và HQ Ðại Úy Trần Kim Diệp thuộc BTL/HQ/V1DH.

HQ-16 do HQ Trung Tá Lê Văn Thự (khóa 10 SQHQ Nha Trang) làm Hạm Trưởng. Hạm Phó là HQ Thiếu Tá Trần Văn Hoa Em (khóa 11 SQHQ Nha Trang) lúc đó nghỉ phép không có mặt trên chiến hạm. Cơ khí trưởng là Ðại Úy CK Hiệp (khóa 14 SQHQ Nha Trang). Ðúng ra, HQ-16 đã mãn hạn tuần dương tại vùng I và đang chuẩn bị trở về Sài Gòn nghỉ bến, chuẩn bị ăn tết Giáp Dần. Công tác phụ trội tại Hoàng Sa của HQ-16 đuợc dự trù sẽ chấm dứt trong vòng 5 ngày. Tình trạng chiến hạm khiển dụng tương đối khả quan, nhưng quân số không được đầy đủ vì gần Tết nên nhiều người đi phép, chờ chiến hạm trở về Sài Gòn mới trình diện.

Sáng ngày 16 tháng 1, HQ-16 tới Hoàng Sa, sau đó thả một xuồng đổ bộ gồm 4 nhân viên cơ hữu để đưa 6 người trong phái đoàn thám sát lên đảo Hoàng Sa. Công tác hoàn tất tốt đẹp không có gì trở ngại. Sau đó, chiến hạm tiếp tục công tác tuần dương và phát hiện một số tầu lạ đang quanh quẩn trong vùng đảo Cam Tuyền (Robert) về phía Nam. HQ -16 liền đổi đường tới gần để điều tra. Ðây là những tầu tương đối nhỏ như loại tầu đánh cá sơn màu xanh đậm có bề ngang hơi lớn với đài chỉ khá lớn như loại tầu quân sự. Chiến hạm dùng đèn hiệu để liên lạc yêu cầu các tầu lạ cho biết xuất xứ theo đúng qui luật hàng hải quốc tế nhưng không được trả lời. Khi đến gần hơn mới nhìn rõ những chiếc tầu này treo cờ Trung Cộng. Tuần Dương Hạm (TDH) Lý Thường Kiệt một mặt lập tức báo cáo sự phát hiện về BTL/HQ/V1ZH tại Ðà Nẵng, đồng thời dùng cờ, đèn và cả máy phóng thanh bằng tiếng Trung Hoa yêu cầu các tầu Trung Cộng phải lập tức rời khỏi lãnh hải Việt Nam. Nhưng các tầu Trung Cộng vẫn không trả lời, một số nhân viên mặc quân phục mầu xanh nhạt còn đứng trên boong buông những lời lẽ khiếm nhã và cử chỉ trêu chọc. HQ-16 vẫn kiên nhẫn dùng loa phóng thanh liên lạc, sau cùng phía tầu Trung Cộng cũng lên tiếng, đòi hỏi ngược lại, yêu cầu HQ-16 rời khỏi lãnh hải của họ! Cứ như vậy, đôi bên dằng co suốt ngày 16 tháng 1, không bên nào chịu nhượng bộ cho tới tối TDH Lý Thường Kiệt phải di chuyển xa hơn ra ngoài khơi để tránh vùng đá ngầm nước cạn nguy hiểm cho sự an toàn của chiến hạm.

Cùng ngày tại Sài Gòn, hãng thông tấn UPI loan tin chiến hạm và binh sĩ Việt Nam đã nổ súng vào một toán người đang cắm cờ Trung Cộng tại đảo Cam Tuyền. Không rõ phía Trung Cộng có bắn trả hay không. Trong lúc đó, các giới chức cao cấp trong chính phủ cũng đang họp khẩn để tìm cách đối phó với sự hiện diện đáng nghi ngờ của Trung Cộng tại Hoàng Sa. Trong một cuộc họp báo, Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc cho biết tầu Trung Cộng đã xâm nhập hải phận Hoàng Sa và đổ bộ người lên các hải đảo và "hành động này đã mang đến sự đe dọa cho nề an ninh chung trong vùng".

Sáng sớm ngày 17-1, khi HQ-16 quay trở lại vùng đảo Cam Tuyền thấy có tầu Trung Cộng vẫn còn ở đó. Ngoài ra, gần đảo Vĩnh Lạc (Money) lân cận cũng có thêm tầu Trung Cộng xuất hiện với hàng trăm lá cờ mầu đỏ cằm rải rác ven bờ biển dọc theo bãi cát trắng. Có lẽ những chiếc tầu mới này đã đổ người lên đảo cắm cờ trong đêm để mạo nhận chủ quyền của Trung Cộng. Hai chiếc tầu dùng để chở quân của Trung Cộng mang số 402 (tên Nam Ngư) và 407.

Tại Sài Gòn, nguồn tin Reuters cho biết Trung Cộng đã gửi hai chiến hạm đến Hoàng Sa sau khi các binh sĩ VNCH bắn vào toán người Trung Cộng trên các hải đảo. Phát ngôn viên quân sự, Trung Tá Lê Trung Hiền cũng cho biết Hải Quân đã phái 6 chiến hạm lớn nhất ra Hoàng Sa để theo dõi các chiến hạm Trung Cộng. Trung Tá Hiền tuyên bố tiếp "Trong lúc này, chúng tôi chưa thể nói sẽ hành động ra sao - gửi thêm lực lượng tăng viện hay chỉ đuổi toán Trung Cộng ra khở hòn đảo Cam Tuyền".

2. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) nhập vùng

Ngay khi nhận được báo cáo của HQ-16 phát hiện nhiều tầu Trung Cộng xâm nhập hải phận Hoàng Sa, BTL/HQ/V1DH lập tức phản ứng. Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư Lệnh HQ/V1DH chỉ thị KTH Trần Khánh Dư HQ-4 ra Hoàng Sa tăng cường, đồng thời ra lệnh cho HQ-16 đổ bộ nhân viên cơ hữu lên đảo Cam Tuyền để triệt hạ cờ Trung Cộng. Khu Trục Hạm (KTH) Trần Khánh Dư do Hải Quân Trung Tá Vũ Hữu San làm Hạm Trưởng. Trung Tá San, xuất thân Khóa 11 Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang. Tác phong đứng đắn, luôn luôn tuân hành và hoàn tất chu đáo mọi chỉ thị của thượng cấp, Trung Tá San không những là một sĩ quan hải quân tài giỏi, mà còn là một hạm trưởng được xếp vào hàng xuất sắc nhất của Hải Quân Việt Nam. Hạm phó của KTH Trần Khánh Dư là Hải Quân Thiếu Tá Nguyễn Thành Sắc, bạn cùng khóa 11 SQHQ Nha Trang với Hạm Trưởng Vũ Hữu San.

Tại cầu tầu của bán đảo Tiên Sa, Ðà Nẵng, lúc đó HQ-4 đang nhận dầu, nước ngọt cũng như thực phẩm, được lệnh hoàn tất việc tiếp tế và lên đường càng sớm càng tốt vì tình hình tại Hoàng Sa mỗi lúc một căng thẳng thêm. Mọi nhân viên trên chiến hạm đều ráo riết chuẩn bị và làm việc không ngưng nghỉ để kịp thời lên đường. Vào khoảng nữa đêm 16 rạng ngày 17 tháng 1, KTH Trần Khánh Dư vận chuyển tách bến Ðà Nẵng trực chỉ Hoàng Sa, chở theo một trung đội Biệt Hải thuộc Sở Phòng Vệ Duyên Hải do Ðại Úy Nguyễn Văn Tiến chỉ huy. Tới xế trưa ngày 17-1, khoảng 2 giờ chiều, chiến hạm ra tới vùng hành quân, hợp cùng với HQ-16 tuần tiễu tại Hoàng Sa. Trong thời gian này, Trung Tá San được Phó Ðề Ðốc TL/HQ/V1ZH chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng cuộc Hành Quân Bảo Vệ Quần Ðảo Hoàng Sa, chịu trách nhiệm điều động cả hai chiến hạm.

HQ-4 Trần Khánh Dư

Khi vừa nhập vùng, Hạm Trưởng HQ-4 đã có những hành động tức thời để uy hiếp lực lượng Trung Cộng. HQ-16 được lệnh vận chuyển từ phía Bắc (đảo Hoàng Sa) xuống, trong khi HQ-4 từ hướng Nam (đảo Vĩnh Lạc) tiến lên tạo thành thế gọng kìm xiết chặt hai chiếc tầu Trung Cộng vào giữa. Thấy lực lượng VNCH được tăng cường và nhất là có phản ứng mạnh hơn so với ngày hôm trươc, hai chiếc tầu Trung Cộng lảng xa khỏi đảo Cam Tuyền nhưng vẫn bám chặt vùng. Ðôi bên lại dùng loa phóng thanh để trao đổi yêu sách, bên này đòi bên kia phải rời khỏi hải phận của mình. Thấy dằng co hồi lâu không đạt được kết quả mong muốn, Trung Tá San ra lệnh cho HQ - 4 húc nhẹ mũi tầu của mình vào một tầu Trung Cộng như muốn đẩy xa ra ngoài khơi để cảnh cáo. Vì mũi tầu HQ-4 cao lớn nên đã làm đài chỉ huy của tầu Trung Cộng thấp hơn bị bể một lỗ lớn. Trước hành động quyết liệt đó, hai chiếc tầu Trung Cộng đành phải nhượng bộ, rời vùng chạy về phía hai đảo Duy Mộng và Quang Hòa ở hướng Ðông Nam.

Sau khi đuổi được hai tầu Trung Cộng đi chỗ khác, TDH Lý Thường Kiệt lập tức đổ bộ một toán nhân viên cơ hữu gồm 15 người lên đảo Vĩnh Lạc để dẹp cờ Trung Cộng và cắm cờ VNCH. Toán nhân viên này đa số được lựa trong ngành trọng pháo quen tác chiến, mang theo súng ống, đạn được và lương khô đủ dùng trong vòng ba ngày. Trưởng toán đổ bộ là Trung Úy Lâm Trí Liêm xuất thân khóa 10 OCS được đào tạo tại Trường Hải Quân tại Rhodes Island, Hoa Kỳ. Trung uý Liêm trước đây đã từng phục vụ tại các giang đoàn chiến đấu trong các sông rạch miền Nam nên tương đối có nhiều kinh nghiệm tác chiến trên bộ.

Toán đổ bộ lên đảo Vĩnh Lạc không gặp sức kháng cự nào, chỉ tìm thấy mấy ngôi mộ mới và vài lá cờ Trung Cộng. Tất cả những dấu tích ngụy tạo này đều bị binh sĩ VNCH phá hủy. Tiếp đó, theo đúng lệnh hành quân, HQ-4 đổ bộ 13 nhân viên cơ hữu lên đảo Cam Tuyền. Tại đây, Trung Cộng có 3 tầu neo gần đảo và mấy chiếc xuồng nhỏ để liên lạc với những người trên đảo. Khi thấy lực lượng VNCH đổ quân, những chiếc tầu Trung Cộng lặng lẽ thu quân rút lui không chống trả. Toán đổ bộ lục soát tìm thấy một lá cờ Trung Cộng mới cắm vài ngày trước. Các dấu tích cũ của VNCH vẫn còn trên đảo gồm một tấm bia ghi ngày 5-12-1963 của Thủy Quân Lục Chiến, 2 bể chứa nước mưa bằng xi măng và một ngôi miếu nhỏ có hàng chữ đề ngày 31-11-1963.

Khoảng 6 giờ chiều ngày 17-1, hai chiến hạm của Hải Quân Trung Cộng loại Kronstadt trang bị hải pháo 100 ly và 37 ly mang số 271 và 274 xuất hiện. Có lẽ những chiến hạm này xuất phát từ căn cứ hải quân Yulin ở phía Nam đảo Hải Nam đến tăng cường theo lời cầu cứu của mấy chiếc tầu chở quân. Hai chiếc Kronstadt từ phía đảo Quang Hòa xả hết tốc độ hướng về các HQ-4 và HQ-16 với thái độ khiêu khích thách thức. Tuy nhiên các chiến hạm VNCH vẫn bình tĩnh và ôn hòa dùng đèn hiệu yêu cầu tầu Trung Cộng hãy rời khỏi hải phận Việt Nam. Phía Trung Cộng cũng dùng quang hiệu trả lời, yêu cầu các chiến hạm VNCH rời khỏi hải phận của họ. Ðôi bên trao đổi tín hiệu chừng một tiếng đồng hồ không có kết quả, nhưng trước thái độ cương quyết của phía VNCH, hai chiếc Kronstadt đành nhập đoàn với những tầu Trung Cộng khác lui về bố trí tại hai đảo Quang Hòa và Duy Mộng. Dường họ có ý định củng cố lực lượng và bảo vệ toán quân đã được đổ bộ lên đảo.

Trước đó, thấy tình hình càng thêm căng thẳng vì Trung Cộng có ý đồ nhất quyết chiếm giữ quần đảo Hoàng Sa bằng võ lực, BTL/HQ/V1DH tại Ðà Nẵng đã ban hành lệnh hành quân Hoàng Sa 1 (số 50.356, nhóm ngày giờ 180020H/01/74).

Nội dung được tóm tắt như sau:

a. Nhiệm vụ: Chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Quang Hòa, , Duy Mộng và Vĩnh Lạc.

b. Thi hành: HQ-16 chiếm đảo Vĩnh Lạc bằng nhân viên cơ hữu. HQ-4 nhận 32 nhân viên Biệt Hải tại Ðà Nẵng có nhiệm vụ đổ bộ chiếm đảo Cam Tuyền, Duy Mộng và Quang Hòa. HQ-5 chở toán Hải Kích từ Ðà Nẵng ra Hoàng Sa để phối hợp và tăng cường cho toán Biệt Hải. Các đảo sau khi chiếm được sẽ giao cho Trung Ðội Ðịa Phương Quân trấn giữ. Toán đổ bộ phải cố gắng dùng biện pháp ôn hòa nhưng cứng rắn để yêu cầu người và tàu bè xâm nhập bất hợp pháp ra khỏi lãnh hải VNCH.

c. Chỉ huy: TL/HQ/V1ZH chỉ huy tổng quát. HQ Ðại Tá Hà Văn Ngạc là Sĩ Quan chỉ huy công tác trên mặt biển. (Ghi chú của người viết: trong suốt cuộc hành quân, Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải (TL/HQ/V1ZH) là Phó Ðề Ðốc Hồ Văn Kỳ Thoại ở tại bản doanh Ðà Nẵng, còn Ðại Tá Ngạc mãi tới ngày 18-1 mới ra tới vùng hành quân nên trước đó Trung Tá San được chỉ định làm SQ chỉ huy công tác trên mặt biển như trên đã nói).

3. Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5 và Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ-10 ra Hoàng Sa

Ðược tin Hải Quân Trung Cộng gửi thêm nhiều chiến hạm từ căn cứ Yulin thuộc đảo Hải Nam đến Hoàng Sa, Hải Quân VNCH cũng tăng cường thêm chiến hạm. Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5 được lệnh tiếp tế khẩn cấp tại Ðà Nẵng và rời quân cảng trong thời gian sớm nhất, còn Hộ Tống Hạm Nhật Tảo đang trên đường ra Ðà Nẵng tiếp ứng.

Hạm Trưởng HQ-5 là HQ Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh, cùng khóa 11 SQ/HQ Nha Trang với Hạm Trưởng HQ-4. Trung Tá Quỳnh là người rất mực thước, đứng đắn, ngay từ khi còn thụ huấn tại quân trường đã tỏ ra có nhiều đức tính tốt cần thiết để trở thành một vị Hạm Trưởng thành công. Trung Tá Quỳnh vừa nhận lãnh quyền chỉ huy Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng tại Vũng Tàu khi được lệnh từ BTL Hạm Ðội trực chỉ Vùng I ngay vì nhu cầu hành quân. Chiến hạm ra tới Ðà Nẵng và cập cầu Tiên Sa tại bán đảo Sơn Chà vào ngày 17-1. Lúc đó, tại Hoàng Sa tình tình đã rất khẩn trương vì HQ-16 và HQ-4 đang phải đương đầu với một lực lượng thủy bộ khá mạnh của Trung Cộng.

Về chiếc Hộ Tống Hạm Nhật Tảo, Hạm Trưởng là HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà, xuất thân khóa 12 SQHQ Nha Trang. Thiếu Tá Thà là một vị Hạm Trưởng trẻ tuổi có nhiều kinh nghiệm hành quân trong sông, xứng đáng là một cấp chỉ huy trong Hải Quân. Hạm Phó của HQ-10 là HQ Ðại Úy Nguyễn Thành Trí, xuất thân khóa 17 SQHQ Nha Trang. HQ Ðại Tá Hà Văn Ngạc, được TL/HQ/V1DH chỉ định làm Sĩ Quan chỉ huy công tác trên mặt biển, đặt Bộ Chỉ Huy trên HQ-5. Là một sĩ quan nhiều kinh nghiệm hải hành và với chức vụ đương nhiệm Chỉ Huy Trưởng Hải Ðội 3 Tuần Dương gồm nhiều chiến hạm chủ lực. Lúc bấy giờ, có lẽ Ðại Tá Ngạc là người hợp lý và xứng đánh nhất để được tuyển chọn làm Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật (OTC). Ngày 18-1, hồi 11 giờ 30 đêm, từ soái hạm HQ-5, ông gửi đi một công điện hành quân "Thượng Khẩn" tới các chiến hạm HQ-4, HQ-16 và HQ-10 thuộc quyền.

Nội dung được tóm tắt như sau:

Nhiệm vụ: Hành quân thủy bộ cấp tốc chiếm đảo Quang Hòa.

Thi hành: Hoàn tất nhiệm vụ bằng đường lối ôn hòa. Nếu địch khai hỏa kháng cự, tập trung hỏa lực tiêu diệt địch.

Kế hoạch: Hai chiến hạm HQ-16 và HQ-10 có nhiệm vụ yểm trợ cho lực lượng đổ bộ bằng cách bám sát hai chiến hạm Kronstadt mang số 271 và 274 của Trung Cộng. Nếu địch khai hỏa, HQ-16 và HQ-10 phải lập tức dùng hỏa lực cơ hữu để tiêu diệt. HQ-4 có nhiệm vụ đổ bộ toán Biệt Hải vào mặt Tây đảo Quang Hòa và yểm trợ hải pháo cho lực lượng đổ bộ. Chiến hạm cũng được lệnh canh chừng và sẵn sàng tiêu diệt các tầu đánh cá võ trang và tầu nhỏ của địch.

Ngày N là ngày 19/1/74; giờ H là 6 giờ sáng (0600H).

Qui luật khai hỏa: được căn cứ trên hai trường hợp căn bản sau đây:

Nếu địch khai hỏa trước: Ta phản ứng bằng hỏa lực cơ hữu để tiêu diệt lực lượng địch càng nhiều càng tốt. Ưu tiên hỏa lực nhắm vào các đơn vị quan trọng như Kronstadt hoặc loại chiến hạm lớn hơn nếu có.

Nếu địch tỏ vẻ ôn hòa: Ta dè dặt và cảnh giác tối đa với sự ôn hòa tương ứng, đồng thời tiếp tục thi hành nhiệm vụ chiếm đảo Quang Hòa bằng cách thương lượng quyết liệt để địch rút lui. Sau đó sẽ trương quốc kỳ Việt Nam và tổ chức phòng thủ trên đảo.

Nếu địch không khai hỏa trước nhưng không chịu rút lui: Ðối với lực lương hải quân địch, áp dụng qui luật quốc tế để yêu cầu rời khỏi lãnh hải. Nếu địch ngoan cố, áp dụng những huấn thị căn bản về việc ngăn chận các chiến hạm và chiến thuyền xâm nhập hải phận. Ðối với lực lượng địch trên đảo, phản ứng thích nghi tùy thuộc vào kết quả của việc thương lượng.

Với Chỉ Huy Trưởng Hải Ðội có mặt trên chiến hạm, HQ-5 ráo riết chuẩn bị cho cuộc hành quân thủy bộ tái chiếm Hoàng Sa. Sau đây là các hoạt động chính của Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng và Hộ Tống Hạm Nhật Tảo, một thành phần của Phân Ðoàn Ðặc Nhiệm 213.7.1. Những hoạt động này được căn cứ vào phúc trình số 001/HQ.5/PT/K ngày 21 tháng 2 năm 1974 của TDH Trần Bình Trọng:

Ngày 17 tháng 1, HQ-16 tới Ðà Nẵng nhận tiếp tế dầu nước và đón Ðại Ðội Hải Kích gồm có 49 người do Hải Quân Ðại Úy Nguyễn Minh Cảnh (khóa 20 SQHQ Nha Trang) chỉ huy. Nửa đêm 17 rạng ngày 18-1, hồi 180012H (sau nửa đêm 12 phút), HQ-16 khởi hành từ Ðà Nẵng đi Hoàng Sa. Hồi 3 giờ 15 sáng (180315H), chiến hạm tới điểm hẹn vớI HQ-10 tại vị trí cách hải đăng Tiên Sa 9 hải lý về hướng Ðông (ngoài khơi cửa biển Ðà Nẵng). Theo báo cáo, tình trạng kỹ thuật của HQ-10 không được khả quan: chỉ còn một máy chánh, máy kia bị hư hỏng chưa kịp sửa chữa nên vận tốc bị giảm trên 50%, radar hải hành cũng bị hư không xử dụng được. Sau khi gặp nhau, hai chiến hạm đổi đường hướng về Hoang Sa, đi hình hàng dọc theo thứ tự HQ-10, HQ-5. Sau khi hải hành được chừng 15 phút, hồi 0327H, vì HQ-5 cần tới Hoàng Sa đúng giờ hẹn như đã dự trù, nhưng vận tốc của HQ-10 quá chậm nên Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật (OTC) ra lệnh cho HQ-5 tăng máy, tách khỏi đi hình trực chỉ đảo Cam Tuyền. Theo lời thuật lại của Hạm Trưởng HQ-5, tuy bỏ lại HQ-10 phía sau, nhưng HQ-5 vẫn dùng radar để hướng dẫn tầu bạn trên đường tới Hoàng Sa.

Hồi 3 giờ chiều (1500H) ngày 18-1, HQ-5 tới Hoàng Sa. Lúc đó, lực lượng hải quân đôi bên như sau: ta có 3 chiến hạm là HQ-4, HQ-5 và HQ-16; phía Trung Cộng có hai tầu Kronstadt mang số 271 và 272, hai tầu chở quân võ trang mang số 402 (tên Nam Ngư) và 407, một tầu vận tải và môt ghe buồm. Hai chiến hạm Kronstdat chủ lực của địch di chuyển quanh các đảo Quang Hòa và Duy Mộng để bảo vệ lực lượng bộ binh đã chiếm đóng đảo. Các chiến hạm ta vào nhiệm sở tác chiến toàn diện vào lúc 3 giờ 15 chiều.

Sau khi HQ-5 tới Hoàng Sa, các chiến hạm ta lập tức vận chuyển theo đi hình tác chiến để quan sát và thăm dò phản ứng địch. Hồi 4 giờ chiều, khởi đi từ vị trí nằm về hướng Ðông Ðông Nam và cách đảo Cam Tuyền chừng 3 hải lý, ba chiến hạm vào đi hình hàng dọc theo thứ tự HQ-16, HQ-5 và HQ-4, trực chỉ phía Tây đảo Quang Hòa là nơi các chiến hạm Trung Cộng đang tập trung. Tới 4 giờ 16 chiều, thấy các chiến hạm VNCH tới gần, lực lượng Trung Cộng cũng phản ứng. Hai chiến hạm Kronstadt vận chuyển về hướng Tây Nam đảo để nghênh cản và chận đường. Hai toán chiến hạm càng tiến gần nhau, tình hình càng căng thẳng. Ðôi bên đều vào nhiệm sở tác chiến nhưng các hải pháo vẫn còn ở vị thế nằm ngang, chưa nhắm thẳng vào nhau. Vì chỉ muốn tham dò phản ứng địch, trước tình trạng gay cấn đó, các chiến hạm VNCH tạm bỏ ý định tiến đến gần đảo Quang Hòa và ngưng máy thả trôi tại vùng giữa đảo Cam Tuyền và Quang Hòa. Lực lượng Trung Cộng cũng không giám gây hấn, trở lại quanh quẩn tại chỗ cũ.

Các chiến sĩ VNCH phòng thủ Hoàng Sa
Hồi 5 giờ 15 chiều, theo lệnh của Sĩ Quan Chỉ Huy Chiến Thuật, HQ-5 thả xuồng đưa một số hải kích qua HQ-16 và nhận lại toán thám sát Hoàng Sa thuộc Quân Ðoàn I gồm 1 Thiếu Tá, 2 Trung Úy Công Binh, 2 binh sĩ Công Binh, 1 Ðại Úy Hải Quân thuộc BTL/V1ZH, 1 nhân viên thuộc Ðài Khí Tượng Hoàng Sa và một người Mỹ. Sau đó, chiến hạm tiếp tục tuần tiễu trong vùng trách nhiệm thuộc phía Ðông Ðông Nam của đảo Cam Tuyền. Khi lên HQ-5, thấy tình hình giữa các chiến hạm Việt Nam đang ráo riết chuẩn bị đổ bộ tác chiến và tình hình quá căng thẳng, nhân viên dân sự Hoa Kỳ trong nhóm thám sát yêu cầu được rời chiến hạm, trở về đảo Hoàng Sa. Vì vậy, vào lúc 9 giờ tối, SQ/CHCT ra lệnh cho HQ-5 tới gần đảo Hoàng Sa rồi thả xuồng đưa 7 người trong nhóm thám sát lên đảo. Riêng HQ/Ðại Úy Trần Kim Diệp thuộc BTL/V1DH ở lại chiến hạm. Có lẽ nhân viên Hoa Kỳ trong nhóm thám sát đã được nguồn tin riêng thông báo sẽ có đụng độ giữa hai lực lượng nên không muốn hiện diện trên chiến hạm Việt Nam, có thể gây rắc rối về mặt ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng.

Trong đêm 18 rạng ngày 19-1, các chiến hạm HQVNCH thả trôi và tuần tiểu trong vùng biển phía Tây Hoàng Sa, bên ngoài các đảo của nhóm Nguyệt Thiềm để tránh những khu vực đá ngầm nguy hiểm và cũng để tránh sự quan sát của lực lượng Trung Cộng. Lúc này, HQ-10 cũng đã tới khu vực hành quân. Như vậy, lực lượng HQVNCH đã có 4 chiến hạm trong vùng Hoàng Sa.

Sáng sớm ngày 19-1, vào lúc 3 giờ 50 sáng, SQ/CHCT ra lệnh cho các chiến hạm VNCH chia làm cánh cùng di chuyển từ vùng biển bên ngoài vòng sâu về phía Nam đảo Vĩnh Lạc, hướng tới đảo Quang Hòa. Phân đội 1 gồm HQ-5 và HQ-4 có nhiệm vụ đổ bộ toán Biệt Hải và Hải Kích để chiếm lại đảo, trong khi phân đội 2 gồm HQ-16 và HQ-10 lãnh nhiệm vụ yểm trợ hải pháo cũng như ngăn chận các chiến hạm Trung Cộng. Vì trời còn tối nên đi hình các chiến hạm Việt Nam di chuyển rất thận trọng, dự trù sẽ tới mục tiêu lúc trời vừa rạng sáng.

Tới 5 giờ sáng, các chiếm hạm tới vị trí Tây Bắc, cách đảo Vĩnh Lạc chừng 3 hải lý. Nhiệm sở tác chiến toàn diện được ban hành lúc 5 giờ 25 sáng khi đội hình bằt đầu vào bên trong các hải đảo của nhóm Nguyệt Thiềm.

Lúc 6 giờ sáng, các chiến hạm tới vị trí Ðông Nam, cách đảo Vĩnh Lạc chừng 5 hải lý. Lúc này, trời đã rạng sáng. Lúc 6 giờ 40 sáng, hai phân đội đã vào vị trí được ấn định trước như sau: Phân đội 1 (Nam) gồm 2 chiến hạm HQ-5 và HQ-4 ở phía Nam đảo Quang Hòa. Phân đội 2 (Bắc) gồm 2 chiến hạm HQ-16 và HQ-10 ở phía Tây Tây Bắc đảo Quang Hòa.

Lực lượng Trung Cộng lúc này đang tập trung tại phía Ðông đảo Quang Hòa và đã được tăng cường thêm 2 trục lôi hạm (tầu vớt mìn) loại T.43 mang số 389 và 396 trong đêm. Trên đảo, địch đã dựng 5 dãy nhà tiền chế sơn màu xanh đậm để trú quân và các công sự phòng thủ đã được bố trí chu đáo để đề phòng các cuộc đổ bộ. Ngoài ra, sát bờ đảo còn có một số ghe nhỏ dùng để tiếp tế.

IV. Lực lượng đôi bên

Tính cho tới ngày 19 tháng 1 là lúc xảy ra trận hải chiến, lực lượng hải quân đôi bên tại Hoàng Sa được ghi nhận như sau. Lực lượng tham chiến Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa gồm 4 chiến hạm: Soái hạm Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5. Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16. Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4. Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ-10

Sau đây là đặc tính của mỗi chiến hạm

Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ-5 --->(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Nguyên là tầu thuộc lực lượng tuần duyên Hoa Kỳ (USCG - US Coast Guard) mang tên Castle Rock (WHEC 383). Ðóng tại thủy xưởng Lake Washington thuộc tiểu bang Washington. Hạ thủy ngày 11/5/1944 và bắt đầu hoạt động kể từ ngày 8/10/1944. Ðược chuyển giao cho HQVN vào ngày 21-12-1971. Trọng tải: 1766 tấn tiêu chuẩn, 2800 tấn tối đa. Kích thước: dài 310.75 ft, chiều ngang 41.1 ft, tầm nước 13.5 ft. Máy chánh: 2 máy dầu cặn loại Fairbank Morse 6080 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa: chừng 18 knots. Vũ khí: 1 khẩu 127 ly (5 inch) phía trước mũi, 1 đại bác 40 ly đôi cũng ở sân trước nhưng ở sân thượng phía trên khẩu 127 ly, 2 khẩu 40 ly bên tả và hữu hạm tại sân sau và 2 khẩu đại bác 20 ly đôi ở hai bên hông đài chỉ huy. Thủy thủ đoàn: chừng 200 người.

Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ-16 --->(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Nguyên thuộc lực lượng tuần duyên Hoa Kỳ, trước đây mang tên Chicoteague (WHEC 375). Ðóng tại thủy xưởng Lake Washington thuộc tiểu bang Washington. Hạ thủy ngày 15/4/1942 và bắt đầu hoạt động kể từ ngày 12/4/1943. Ðược chuyển giao cho HQVN vào ngày 21/6/1972. Ðặc tính: Tương tự như HQ-5 (xem phần trên). Tuần Dương Hạm là loại chiến hạm lớn nhất của HQVN và có súng cỡ 127 ly cũng lớn nhất. Các loại vũ khí chống tầu ngầm đã bị cắt bỏ khi chuyển giao cho HQVN.

Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ-4 --->(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Nguyên là USS Foster DER 334 của Hải Quân Hoa Kỳ. Ðóng tại thủy xưởng Consolidated Steel Corporation, Orange tiểu bang Texas. Hạ thủy ngày 13/11/1943 và bắt đầu hoạt động kể từ ngày 25/1/1944. Ðược chuyển giao cho HQVN vào ngày 25/9/ 1971. Trọng tải: 1590 tấn tiêu chuẩn, 1850 tấn tối đa. Kích thước: dài 306 ft, ngang 36.6 ft, tầm nước 14 ft. Máy chánh: 2 máy dầu cặn loại Fairbank Morse 6,000 mã lực. Vận tốc tối: đa 21 knots. Vũ khí: 2 đại bác 76 ly, một tại sân trước có pháo tháp và một tại sân sau lộ thiên cùng một số đại bác 20 ly. Thủy thủ đoàn: chừng 170 người.

HQ-4 nguyên là một Khu Trục Hạm thuần túy có nhiệm vụ yểm trợ phòng không và chống tầu ngầm, nhưng sau thế chiến thứ hai đã được hoàn toàn tân trang và gắn loại radar TACAN (Tactical Aircraft Navigation) để trở thành loại chiến hạm chuyên dùng radar để phát hiện hỏa tiễn địch (radar picket). Chiến hạm này đã từng tham dự chiến dịch Market Times ngoài khơi Việt Nam để ngăn chận sự xâm nhập của Cộng sản bằng đường biển.

Hộ Tống Hạm Nhựt Tảo HQ-10 --->(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Nguyên là USS Serene (MSF 300). Ðây là loại tầu chuyên được dùng để rà mìn ngoài đại dương (MSF - Mine Sweeper Fleet). Ðóng tại thủy xưởng Winslow Marine & SB Co., Winslow, tiểu bang Washington. Ðược chuyển giao cho HQVN vào tháng 1/1964 cùng với Hộ Tống Hạm Chí Linh. Trọng tải: 650 tấn tiêu chuẩn, 945 tấn tối đa. Kích thước: Dài 184.5 ft, ngang 33 ft, tầm nước 9.75 ft. Máy chánh: 2 máy dầu cặn Cooper Bessemer 1710 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa: 14 knots. Vũ khí: 1 đại bác 76 ly l thiên ở sân trước, 2 đại bác 40 ly đơn bên tả và hữu hạm ở sân giữa, 4 đại bác 20 ly đôi ở hai bên đài chỉ huy và ở sân sau. Thủy thủ đoàn: Chừng 80 người.

Khi được chuyển giao cho HQVN, chiến hạm được biến cải từ tầu vớt mìn thành tầu hộ tống. Các dụng cụ rà mìn được cắt bỏ. Các vũ khí chống tầu ngầm được thêm vào gồm 2 giàn thả thủy lựu đạn (depth charge) ở sân sau và một giàn phóng thủy lựu đạn loại Hedgehog ở sân trước.

b. Hải Quân Trung Cộng

Tổng Cộng gồm 11 chiếc tầu đủ loại, trong số này có 2 Hộ Tống Hạm (Submarine Chaser) loại Kronstadt mang số 271 & 274 và 2 chiếc Trục Lôi Hạm (tầu rà mìn) loại T.43 mang số 389 & 396 trực tiếp tham chiến là có hỏa lực đáng kể. Những chiếc khác là tầu chở quân hay ngư thuyền võ trang. Ngoài ra, lực lượng tiếp viện của Trung Cộng còn có các Khinh Tốc Ðĩnh Hỏa Tiễn Komar và có thể cả loại Osa và Khu Trục hạm loại Kiangnan.

Sau đây là đặc tính của các chiến hạm Trung Cộng

Hộ Tống Hạm Kronstadt --->(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Sáu chiếc Kronstadts đầu tiên trong HQ Trung Cộng do Nga chế tạo vào khoảng năm 1950-53 và chuyển giao vào năm 1956-1957. Sau này Trung Cộng tự đóng thêm 12 chiếc nữa tại các xưởng đóng tầu Thượng Hải và Quảng Ðông, chiếc sau cùng hoàn tất vào năm 1957. Ðặc tính của loại Kronstadt là mình hẹp, lườn thấp và có vận tốc cao để săn đuổi tầu ngầm. Trước năm 1974, lại tầu Kronstadt mang chiến số từ 600 trở lên, sau này được đổi lại với chiến số loại 200 sơn ngoài vỏ tầu. Trọng tải: 310 tấn tiêu chuẩn, 380 tấn tối đa. Kích thước: dài 170 ft, ngang 21.5 ft, tầm nước 9 ft (52 m x 6.5 x 2.7) Máy chánh: 2 máy dầu cặn 3,300 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa: 24 knots. Vũ khí: 1 đại bác 100 ly (3.5 inch) ở sân trưóc và 2 đại bác 37 ly ở sân sau, 2 giàn thủy lựu đạn và 2 giàn thả mìn. Thủy thủ đoàn: chừng 65 người.

Trục Lôi Hạm T.43 --->(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Hai chiếc đầu tiên do Nga chế tạo và chuyển giao vào khoảng năm 1954-55. Sau đó Trung Cộng tự đóng thêm 18 chiếc nữa. Trọng tải: 500 tấn tiêu chuẩn, 610 tấn tối đa. Kích thước: dài 190.2 ft, ngang 28.2 ft, tầm nước 6.9 ft (58 m x 6.1 x 2.6) Máy chánh: 2 máy dầu cặn 2,000 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa: 17 knots. Thủy thủ đoàn: chừng 40 người.

Lực lượng trừ bị ứng chiến của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa

Gồm 2 chiến hạm: Tuần Dương Hạm Trần Quốc Toản HQ-6. Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ-11. Những chiến hạm này vì được điều động từ xa tới nên không thể có mặt tại Hoàng Sa trước ngày 19 tháng 1. Về Không Quân, tuy có tin các phi đoàn phản lực cơ F-5 và A-37 được lệnh túc trực tại phi trường Ðà Nẵng nhưng thật ra những phi cơ này có tầm hoạt động rất ngắn không thể ra tới Hoàng Sa. Cũng có nguồn tin không chính thức cho biết đã có ý định xử dụng các Dương Vận Hạm (LST - Landing Ship Tank) như mẫu hạm tạm thời để chở các trực thăng võ trang ra Hoàng Sa nhưng kế hoạch này không được thực hiện. Tóm lại, các chiến hạm HQ/VNCH không có phi cơ trợ chiến.

Lực lượng trừ bị ứng chiến của Hải Quân Trung Cộng

Gồm nhiều chiến hạm đủ loại và phi cơ Mig đủ loại: 4 Phi Tiễn Ðĩnh loại Komar. Nhiều Khu Trục Hạm mang hỏa tiễn loại Kianjiang. Một hay nhiều tiềm thủy đĩnh. Các phi cơ Mig.

Tốc Ðĩnh Hỏa Tiễn Komar --->(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Chiếc Komar đầu tiên do Nga chuyển giao vào năm 1965, 2 chiếc khác vào năm 1967 và 7 chiếc nữa trong khoảng năm 1968-71. Sau đó Trung Cộng tự đóng thêm chừng 10 chiếc khác và đặt tên là "Hoku". Loại chiến hạm này tuy nhỏ nhưng rất nguy hiểm vì có vận tốc nhanh, dễ vận chuyển nên là một mục tiêu rất khó bằn trúng. Ngoài ra, loại hỏa tiễn Styx có thể bắn trúng mục tiêu cách xa vài chục cây số. Chính một quả hỏa tiễn này do Ai Cập bắn này đánh chìm Khu Trục Hạm Eilath, chiếc tầu lớn nhất của Hải Quân Do Thái trong trận chiến tranh năm 1967. Trọng tải: 70 tấn tiêu chuẩn, 80 tấn tối đa. Kích thước: dài 83.7 ft, ngang 19.8 ft, tầm nước 5 ft (25.5 m x 6 x 1.8) Hỏa tiễn: 2 giàn phóng hỏa tiễn loại Styx dùng để bắn chiến hạm. Máy chánh: 2 máy dầu cặn 4,800 mã lực, 2 chân vịt. Vận tốc tối đa: 40 knots Vũ khí: 2 đại bác 25 ly (1 giàn đôi gắn đàng trước mũi). Thủy thủ đoàn: chừng 10 người.

Khinh Tốc Ðĩnh Hỏa Tiển Osa --->(Hình ảnh và đặc tính của chiến hạm)

Chiếc Osa đầu tiên do Nga chuyển giao vào tháng 1 năm 1965. Bốn chiếc khác chuyển giao vào năm 1966-67 và 2 chiếc nữa vào năm 1968. Trung Cộng cũng tự đóng lấy một số khác và đặt tên là "Hola". Trọng tải: 165 tấn tiêu chuẩn, 200 tấn tối đa. Kích thước: Dài 128.7 ft, ngang 25.1 ft, tầm nước 5.9 ft (39.3 m x 7.7 x 1.8). Máy chánh: 3 máy dầu cặn, 13,000 mã lực. Vận tốc tối đa: 32 knots Vũ khí: 4 đại bác 30 ly (2 giàn đôi, 1 trước mũi và 1 sau lái). Thủy thủ đoàn: chừng 25 người.

V. tương quan lực lượng

Nếu chỉ so sánh về vũ khí, phía VNCH có phần trội hơn vì các Tuần Dương Hạm được trang bị hải pháo 127 ly, trong khi các Kronstadt của Trung Cộng chỉ được gắn súng cỡ 100 ly, nhưng trong một trận hải chiến khi đôi bên gần nhau, cỡ súng lớn chưa chắc đã chiếm được lợi thế vì không tận dụng được tầm bắn xa và nhịp bắn lại chậm. Phần các chiến hạm Trung Cộng có vận tốc cao lại nhỏ nhẹ dễ vận chuyển nên chiếm được ưu thế trong lúc hải chiến. Hơn nữa, các chiến hạm VNCH không những vừa to, cao lại xoay trở tương đối chậm nên là mục tiêu rất dễ dàng cho địch thủ nhắm bắn. Chính Trung Tá San, Hạm Trưởng HQ-4 cho biết vì các chiến hạm Trung Cộng nằm rất thấp gần sát mặt nước nên rất khó bắn trúng. Trong khi các khẩu hải pháo VNCH vì nằm trên cao nên phải rất khó khăn hạ cao độ xuống dưới đường chân trời mới có thể nhắm trúng mục tiêu, các chiến hạm Trung Cộng vì thấp hơn nên dễ dàng nâng cao độ của những khẩu đại bác chừng 5-10 độ là đã có thể tác xạ hữu hiệu.

So sánh những sở trường và sở đoản của từng loại chiến hạm, trong trận hải chiến một chọi một tại Hoàng Sa, lực lượng đôi bên có vẻ tương đồng, việc hơn thua phần lớn sẽ do các cấp chỉ huy và tinh thần của thủy thủ đoàn quyết định. Tuy nhiên, kể về lực lượng trừ bị ứng chiến, phía Trung Cộng chiếm ưu thế tuyệt đối, nhất là về mặt không yểm. Có thể nói dù đánh chìm hết các tầu Trung Cộng trong ngày 19/1, các chiến hạm HQ/VNCH cũng không thể ở lại Hoàng Sa vì không thể đương đầu với lực lượng tăng viện của địch.

Xem tiếp Phần 1 - Phần 2 - Phần 3

Trần Ðỗ Cẩm
(Trích từ tác phẩm "Biển Ðông Nổi Sóng" của Trần Ðỗ Cẩm)